Home / SOẠN VĂN / Soạn văn lớp 9 / Soạn bài xưng hô trong hội thoại | Làm văn mẫu

Soạn bài xưng hô trong hội thoại | Làm văn mẫu

(Soạn văn lớp 9) – Em hãy soạn bài Xưng hô trong hội thoại (tiếp theo)

(Bài làm của học sinh Hoàng Linh Đan)

Đề bài: Soạn bài xưng hô trong hội thoại

BÀI LÀM

I. TỪ NGỮ XƯNG HÔ VÀ VIỆC SỬ DỤNG TỪ NGỮ XƯNG HÔ

Loading...

1. 

* Các từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt: Tôi, tao, tớ, mình, mày, nó, hắn, gã, … chúnh tôi, chúng tớ, chúng tao, chúng mình, chúng mày, chúng nó, … Anh, em, chú, bác, cô, dì, cậu, mợ, ông ấy, bà ấy, chị ấy, …

* Cách dùng với ngôi thứ:

– Ngôi thứ nhất: Tôi, tao, tớ, … chúng tôi, chúng tao,..

– Ngôi thứ hai: Mày, mi,…chúng mày,…

– Ngôi thứ ba: Nó, hắn,…chúng nó, họ, bọn họ,…

* Cách dùng để biểu lộ sắc thải biểu cảm:

– Suồng sã: Mày, tao, chúng tao, bọn tao,…

– Sắc thái thân mật: Anh, chị, em, …

– Sắc thái trang trọng: Quý ông, quý bà, quý vị, …

– Sắc thái trung hoà: Tôi, chúng tôi, …

* Lưu ý: Trong Tiếng Việt còn một số trường hợp sau:

– Đối tượng xưng hô thường dùng ở nhiều ngôi: Mình.

– Đối tượng xưng hô chỉ gộp nhiều ngôi: Ta, chúng ta, chúng mình, …

– Đối tượng xưng hô chỉ gộp “Tương hỗ” nhau: Ví dụ: Từ giờ phút ấy, chúng tôi đã trở thành đồng chí của nhau => Từ ngữ xưng hô = Đại từ xưng hô + Danh từ chung,…

-> Từ ngữ xưng hô trong Tiếng Việt phong phú và tinh tế hơn từ ngữ xưng hô trong Tiếng Anh

Soạn bài xưng hô trong hội thoại

2. 

*  Từ ngữ xưng hô ở hai đoạn trích:

  • Đoạn trích a: – Anh – em. Dế Choắt gọi Dế Mèn là anh và xưng mình là em

                                    – Ta – Chú mày. Dế Mèn xưng là ta với Dế Choắt và gọi Choắt là chú mày

  • Đoạn trích b: – Tôi – Anh. Dế Mèn và Dế Choắt xưng hô với nhau là tôi và anh

* Có sự thay đổi trong cách xưng hô từ đoạn trích a đến đoạn trích b. Ở đoạn trích a cách xưng hô của hai nhân vật rất khác nhau. Thể hiện sự bất bình đẳng. Dế Choắt gọi Dế Mèn là anh và xưng mình là em. Mặc dù trong tác phẩm này, nhà văn Tô Hoài đã giới thiệu hai nhân vật này trạc tuổi nhau. Như vậy, thì không thể nào một người là anh, một người là em được. Nếu Dế Mèn hơn tuổi Dế Choắt thì Choắt mới phải gọi Mèn là anh. Ở đây, cách xưng hô này thể hiện cho vị trí xã hội, kẻ ở vị thế yếu, cảm thấy mình thấp hèn cần nhờ vả người khác là Choắt sẽ phải gọi kẻ mạnh hơn mình là anh. Còn Dế Mèn, kẻ cho mình ở vị thế mạnh nên kiêu căng và hách dịch xưng ta và gọi Choắt là chú mày.

Đến đoạn trích b cách xưng hô như nhau (tôi -anh) . Cách xưng hô này là bình đẳng, ngang hàng giữa hai nhân vật. Như vậy đã có sự thay đổi Vì Dế Choắt không còn coi mình là đàn em, cần nhờ vả, nương tựa Dế Mèn nữa. Dế Choắt nói với Dế Mèn những lời trăng trối với tư cách là một người bạn. Còn về phần mình, Dế Mèn cũng đã nhận ra lỗi lầm, ăn năn, hối hận nên đã thay đổi cách xưng hô.

Luyện tập:

1-Bài tập 1: (SGK trang 39)

– Lời mời “Ngày mai chúng ta làm lễ thành hôn, mời thầy đến dự” có sự nhầm lẫn trong cách dùng từ vì chúng ta là từ xưng hô chỉ ngôi "gộp" bao gồm cả người nói và người nghe. Ở đây, phải dùng từ chúng tôi thay cho chúng ta mới chính xác. Người được mời chỉ là khách, không phải là chủ nhân của buổi thành hôn đó.

– Có sự nhầm lẫn vì cô ta là người nước ngoài, mới học Tiếng Việt, chưa nắm vững; vì vậy còn có thói quen trong ngôn ngữ của tiếng mẹ đẻ.

– Cô cần sử dụng từ: Chúng tôi hoặc chúng em (Từ xưng hô chỉ một nhóm ít nhất hai người, trong đó có người nói nhưng không có người nghe – Trong Tiếng Việt xếp những từ xưng hô này vào “ngôi trừ”.

2-Bài tập 2: (SGK trang 40).

Trong văn bản khoa học, nhiều khi tác giả của văn bản chỉ là một người, nhưng vẫn xưng hô chúng tôi chứ không xưng tôi. Vì:

– Văn bản khoa học là những văn bản trình bày về các nội dung khoa học; bao gồm văn bản khoa học chuyên sâu, văn bản khoa học giáo khoa và văn bản khoa học phổ cập.

– Việc dùng chúng tôi thay cho tôi nhằm tăng thêm tính khách quan cho những luận điểm khoa học trong văn bản. Ngoài ra việc dùng từ ngữ xưng hô như vậy còn thể hiện sự khiêm tốn của tác giả.

– Song, trong những tình huống nhất định cần nhấn mạnh ý kiến cá nhân thì dùng tôi tỏ ra thích hợp hơn.

3-Bài tập 3: (SGK trang 40).

– Từ xưng hô mà cậu bé dùng với mẹ: – Mẹ. Đây là từ xưng hô theo lẽ thông thường.

– Từ xưng hô mà Thánh Gióng dùng với sứ giả: Ta – ông. Cách xưng hô khác thường => Thể hiện sự khác thường của Thánh Gióng.

4-Bài tập 4: (SGK trang 40).

– Cách dùng từ xưng hô:

+ Danh tướng: 1. Thầy – con;    2. Thầy – con.

+ Thầy giáo già: Ngài.

– Người học trò: Thể hiện thái độ kính cẩn và lòng biết ơn của vị tướng với thầy giáo mình.Chúng ta cần nói theo tinh thần “Tôn sư trọng đạo”. Cho dù giờ đây người học trò đó đã là một vị danh tướng, thì đối với ông, người thầy từng dạy mình hồi nhỏ vẫn là một người thầy đầy kính trọng. Cho dù giờ ông có làm đến chức to, nhưng ông vẫn là một đứa học trò của thầy, vì vậy, thái độ và cách xưng hô của ông với thầy giáo vẫn thể hiện sự kính trọng.

5-Bài tập 5: (SGK trang 40, 41).

– Trước năm 1945: Nước ta là một nước phong kiến. Người đứng đầu nhà nước là vua: Xưng hô với dân là trẫm.

– Bác-Người đứng đầu nhà nước Việt Nam dân chủ công hoà: Xưng tôi và gọi dân chúng là đồng bào: Tạo cảm giác gần gũi với người nghe. Đánh dấu một bước trong quan hệ giữa nhân dân với lãnh tụ (Lãnh tụ với nhân dân) trong một nước dân chủ. Thể hiện sự bình đẳng, tôn trọng nhân dân của Bác.

Soạn bài xưng hô trong hội thoại

6-Bài tập 6: (SGK trang 41).

* Cách xưng hô của các nhân vật trong đoạn trích:

– Cai lệ: Thằng kia, … ông … mày.

– Người nhà lý trưởng: Chị … chị … chị.

– Chị Dậu: Nhà cháu…cháu…hai ông…cháu.

– Cai lệ: Mày … mày.

– Chị Dậu: Nhà cháu … ông.

– Cai lệ: Ông … mày.

– Chị Dậu: Cháu … ông … nhà cháu…

– Chị Dậu: Tôi … ông.

– Chị Dậu: Mày … bà.

* Cai lệ là kẻ có quyền lực. Cách xưng hộ của hắn thể hiện trịch thượng, hống hách. Còn chị Dậu: Lúc đầu hạ mình, nhẫn nhục vì là người dân bị áp bức, không có chức quyền. Nhưng sau thay đổi hoàn toàn: Tôi-ông, bà-mày: Sự thay đổi trong cách xưng hô của chị Dậu thể hiện thái độ phẫn uất, căm tức vì cai lệ không chịu tha cho chồng chi mà vẫn nhảy vào đánh trói chồng chị. Cách xưng hô này thể hiện sự phản kháng quyết liệt của một con người bị dồn đến bước đường cùng. Thể hiện rõ nhan đề văn bản “Tức nước” thì ắt “Vỡ bờ”.

>>> XEM THÊM : 

Spread the love
Loading...

Check Also

phân tích chân dung tinh thần Hồ Chí Minh trong Chiều tối và Lai Tân

Phân tích chân dung tinh thần Hồ Chí Minh trong Chiều tối và Lai Tân | Văn mâu

(Văn mẫu lớp 11) – Em hãy phân tích chân dung tinh thần Hồ Chí Minh …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *