Home / SOẠN VĂN / Soạn văn lớp 7 /  Soạn bài Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn | Làm văn mẫu

 Soạn bài Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn | Làm văn mẫu

(Soạn văn lớp 7) – Em hãy soạn bài  Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn

(Bài làm của học sinh Bích Mỹ)

Đề bàiSoạn bài Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn

BÀI LÀM

I. TÌM HIỂU CHUNG

Loading...

1. Tác giả :

– Là cây bút xuất sắc nhất viết về truyện ngắn những năm đầu TKXX

– Là nhà văn có lòng nhân đạo sâu sắc.

2. Tác phẩm:

a. Xuất xứ:  Là truyện ngắn đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ. Truyện ngắn hiện đại: xuất hiện muộn (TKXX). Viết bằng văn xuôi tiếng Việt hiện đại, thiên về kể chuyện gần với kí; với sự việc, cốt truyện phức tạp, hướng vào khắc hoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người (ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp).

– Câu chuyện diễn ra trong thời gian hạn chế, không gian hạn chế.

– Sáng tác 1918, in trong “Truyện ngắn Nam phong”.

b. Tóm tắt: Truyện xảy ra ở Bắc Bộ vào lúc 1 giờ đêm, nước sông Nhị Hà lên to – khúc đê X, xã X sắp bị vỡ. Dân phu hàng trăm người kéo tới lo sợ đê hỏng. Nhưng trong đình vẫn đèn thắp sáng trưng, kẻ hầu người hạ tấp nập cho quan phụ mẫu đánh tổ tôm. Trước nguy cơ đê vỡ nha lại và quan vẫn thản nhiên đánh bài và thờ ơ trước cảnh tượng lo sợ của dân. Cuối cùng, quan thắng bài, đê vỡ dẫn tới cảnh thảm sầu.

c. Bố cục:

– Từ đầu … “không khéo thì vỡ mất.”: Cảnh sắp đê vỡ.

– Tiếp … “Điếu mày!”: Cảnh trên đê và cảnh trong đình trước khi đê vỡ.

– Còn lại: Cảnh đê vỡ và cảnh quan thắng bài.

 Soạn bài Sống chết mặc bay

II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

1. Cảnh đê sắp vỡ:

– Thời gian: “gần một gời đêm”

– Không gian: “trời mưa tầm tã,nước sông Nhị Hà lên to”

– Địa điểm: “Khúc sông làng X,thuộc phủ X,hai ba đoạn đã thẩm lậu”

-> Đêm tối, mưa to không ngớt, nước sông dâng nhanh có nguy cơ làm đê vỡ.  Sự việc có ý nghĩa thắt nút, tạo tình huống có vấn đề để từ đó các sự việc liên tiếp sẽ xảy ra. Tên sông được nói cụ thể nhưng tên làng tên phủ được ghi bằng kí hiệu điều đó thể hiện dụng ý của tác giả. Tác giả muốn bạn đọc hiểu câu chuyện này không chỉ xảy ra ở một nơi mà có thể là phổ biến ở nhiều nơi trong nước ta.

2. Cảnh trên đê và cảnh trong đình trước khi đê vỡ:

Cảnh vỡ đê Cảnh trong đình
– Trời mưa tầm tã

 

 

 

– Nước sông dâng to cuồn cuộn, bốc lên

 

– Dân phu hàng trăm nghìn người cố hết sức hộ đê – tình cảnh thật bi thảm.

– Dân xao xác gọi nhau, tiếng trống,tiếng ốc thổi vô hồi – lo thay, nguy thay.

– Dân cố hết sức nhưng vô vọng, sức người không địch nổi sức trời.

Cụ thể:

+ Hình ảnh: “Kẻ thì …lướt thướt như chuột”

+ Âm thanh: “Trống đánh … xác gọi nhau”

+ Nhiều từ láy tượng hình (bì bõm …). Kết hợp ngôn ngữ biểu cảm (than thay, lo thay…)

-> hối hả, chen chúc, nhếch nhác, thảm hại ® dựng lại cảnh dân đang chống chọi với nước, để đối lập với cảnh tượng trong đình

– Đê vỡ thật – dân rơi vào cảnh thảm sầu.

 

 

 

=> thiên nhiên đang đe doạ  cuộc sống, người dân trông thật thảm sầu

– Đình vững chãi, cao ráo, cách xa khúc đê xắp vỡ.

 

 

 

– Không khí tĩnh mịch, nghiêm trang, đèn thắp sáng trưng.

– Quan uy nghi, chiễm chệ, nhàn nhã, đầy đủ nghi thức, đầy đủ tiện nghi. Cụ thể:

+ Chân dung: uy nghi, chễm chệ … mà gãi

+ Đồ vật: bát yến hấp…đồng hồ vàng

– Quan đam mê tổ tôm “đê vỡ mặc đê” … không bằng nước bài cao thấp.

– Quan hù doạ, quát nạt: “đê vỡ rồi ông cách cổ chúng mày, bỏ tù chúng mày.”

-> là viên quan béo tốt, nhàn nhã, thích hưởng thụ, hách dịch ® đối lập với thảm cảnh của người dân ® thể hiện ý nghĩa phê phán của truyện

– Quan:

+ Khi nghe tin đê vỡ: “Đê vỡ rồi… Có biết không?”

+ Khi ù nước bài lớn: “Ù! Thông tôm, chi chi nảy!… Điếu mày!”

 sử dụng ngôn ngữ đối thoại + tương phản , khắc hoạ thêm tính cấch tàn nhẫn, vô lương tâm của quan phụ mẫu và tố cáo bọn quan lại vô trách nhiệm với mạng sống của con người.

=> tôn nghiêm trật tự, quan uy nghi, đường bệ, nhàn nhã với niềm vui phi nhân tính.

– Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật tăng cấp và đối lập.  Cụ thể: Đối lập và tăng cấp giữa sức người và sức trời; Đối lập và tăng cấp giữa cảnh hộ đê ngoài đình của dân phu và cảnh hộ đê trong đình của quan phụ mẫu và đám nha lại. Hai biện pháp nghệ thuật học tập từ truyện dân gian ấy đã tạo nên cốt truyện hấp dẫn và vẫn góp phần đắc lực thể hiện một câu chuyện hiện đại chân thực và cảm động. Do đó, thực chất của việc tìm hiểu nội dung 2 phần còn lại của văn bản là đi phân tích các mặt đối lập đó. 

– Điều mà tác giả muốn tô đậm ở đây là sự bất lực của sức người trước sức trời, sự yếu kém của thế đê trước thế nước. Nhà văn đã miêu tả rất chi tiết, cụ thể tai hoạ của thiên tai đang giáng xuống đầu người dân lao động. Họ đang cố hết sức để kè đê nhưng vô vọng và cuối cùng là dẫn tới cảnh thảm sầu. Trong khi đó cảnh tượng trong đình như một triều đình con, trật tự tôn nghiêm, đầy đủ tiện nghi, không có một chút tạm bợ, không ai vội vã, không chút lo âu mà nhàn nhã, đam mê cờ bạc. Chúng đang say với niềm vui phi nhân tính mặc cho dân đen đang vất vả, lấm láp, gội gió tắm mưa, như đàn sâu, lũ kiến trên đê.

– Hai cảnh tượng cùng diễn ra một thời điểm, cùng một địa điểm, của những con người có chung một nhiệm vụ nhưng lại là 2 cảnh hoàn toàn trái ngược nhau, trái ngược đến khó tin. Với cảnh người dân hộ đê, phép tăng cấp thể hiện trong cách miêu tả làm nổi bật được sức người mỗi lúc một đuối, nguy cơ đê vỡ mỗi lúc một đến gần và cuối cùng đã đến. Với cảnh quan phủ cùng nha lại đánh bài tổ tôm trong đình, phép tăng cấp được vận dung vào việc miêu tả độ đam mê đánh tổ tôm gắn với bản chất vô trách nhiệm, vô lương tâm của tên quan phủ mỗi lúc một tăng. Qua hàng loạt chi tiết tô đậm sự tương phản đó đã giúp cho người đọc cảm nhận hết sự vô trách nhiệm của viên quan phụ mẫu đối với dân và thấy rõ nỗi thống khổ của người dân vô tội. Hắn không hề mảy may động lòng trước số phận của người dân. Hắn thờ ơ, dửng dưng, vô trách nhiệm, trước sau như một vẫn là thái độ “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”. Từ đó, khơi dậy ở người đọc sự cảm thông, phẫn nộ…

3. Cảnh đê vỡ:

– Ngôn ngữ miêu tả: “Khắp mọi nơi …ngập hết”

– Ngôn ngữ biểu cảm: “Kẻ sống …kể sao cho xiết”

-> Cảnh vỡ đê vừa gợi tả được cảnh tượng lụt lội do đê vỡ vừa tỏ lòng ai oán cảm thương của tác giả, có vai trò mở nút, thể hiện tình cảm nhân đạo của tác giả.

Soạn bài Sống chết mặc bay

III. TỔNG KẾT

1. Giá trị nội dung:

– Giá trị hiện thực: Phản ảnh chân thực sự đối lập giữa cuộc sống của nhân dân  trong xã hội cũ (cơ cực, thê thảm) và cuộc sống của bọn quan lại (ăn chơi, hưởng lạc, vô trách nhiệm).

– Giá trị nhân đạo: Thể hiện lòng thương cảm chân thành trước cuộc sống lầm than, cơ cực của người dân trước hoạ do “tại trời ách nước”. Lên án kẻ cầm quyền thờ ơ, vô trách nhiệm với tính mệnh dân thường.

2. Giá trị nghệ thuật:

– Xây dựng nhân vật bằng nhiều hình thức ngôn ngữ, nhất là đối thoại.

– Kết hợp nhuẫn nhuyễn 2 phép tương phản và tăng cấp để khắc hoạ nhân vật làm nổi bật tư tưởng của tác phẩm .

– Ngôn ngữ sinh động, miêu tả cụ thể, nhất là khắc hoạ rõ nét tính cách nhân vật.

>>> XEM THÊM : 

Spread the love
Loading...

Check Also

soạn bài luyện tập làm văn bản đề nghị và báo cáo

Soạn bài Luyện tập làm văn bản đề nghị và báo cáo | Làm văn mẫu

(Soạn văn lớp 7) – Em hãy soạn bài Luyện tập làm văn bản đề nghị …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *