Home / VĂN MẪU THCS / Văn mẫu lớp 8 / Phân tích văn bản thuế máu của Nguyễn Ái Quốc | Văn Mẫu

Phân tích văn bản thuế máu của Nguyễn Ái Quốc | Văn Mẫu

(Văn mẫu lớp 8) – Em hãy phân tích đoạn trích Thuế máu (Trích Bản án chế độ thực dân Pháp) của Nguyễn Ái Quốc  

(Bài làm của học sinh Lại Thị Thơ)

Đề bàiPhân tích văn bản thuế máu của Nguyễn Ái Quốc

BÀI LÀM

     Thuế máu là đoạn trích có sự kết hợp tài tình của nhiều hình thức thể loại: phóng sự, văn chương thẩm mĩ, nhưng trên hết và trước hết, nó là một tác phẩm văn chính luận, mang đây đủ đặc trưng của một tác phẩm văn chính luận. Tác phẩm đã vạch trần chân tướng dã man, tàn ác, xảo trá, đê hèn của thực dân Pháp, đồng thời để thức tỉnh nhanh chóng nhân dân các nước thuộc địa cổ vũ họ đứng lên đấu tranh.

Loading...

    Bản án chế độ thực dân Pháp là tác phẩm của Hồ Chủ tịch viết bằng tiếng Pháp trong khoảng những năm 1921-1925, đăng tải lần đầu tiên tại Paris. Tác phẩm gồm 12 chương và phần phụ lục, với cách thành văn ngắn gọn, súc tích, cùng với những sự kiện đầy sức thuyết phục, tác phẩm tố cáo thực dân Pháp dùng mọi thủ đoạn khốc liệt bắt “dân bản xứ” phải đóng “thuế máu” cho chính quốc… để “phơi thây trên chính trường Châu Âu”, đày đọa phụ nữ, trẻ em “thuộc địa”; các thống sứ, quan lại thực dân độc ác như một bầy thú dữ, v.v… Tác phẩm đã gây được tiếng vang lớn ngay từ khi ra đời, thức tỉnh lương tri của những con người yêu tự do, bình đẳng, bác ái, hướng các dân tộc bị áp bức đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga và Chủ nghĩa Mác-Lênin, thắp lên ngọn lửa đấu tranh cho độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội của dân tộc Việt Nam. Năm 1946, ở Việt Nam, tác phẩm này đã được xuất bản bằng tiếng Pháp tại Hà Nội. Năm 1960, Nhà xuất bản Sự Thật lần đầu tiên đã xuất bản bằng tiếng Việt.

Phân tích văn bản thuế máu của Nguyễn Ái Quốc

     Đoạn trích Thuế máu nằm trong chương I (cùng tên) của tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp. Bằng tư liệu phong phú, xác thực, bằng ngòi bút trào phúng sắc sảo, Nguyễn Ái Quốc đã tố cáo được một cách sâu sắc tội ác của thực dân Pháp. Đoạn trích còn có hiều hình ảnh giàu giá trị biểu càm, có giọng điệu vừa mỉa mai, vừa đau đớn, xót xa thể hiện được tấm lòng của Bác dành co người dân thuộc địa.

     Tiêu đề Thuế máu thể hiện như một luận điểm chìm, mang ý nghĩa tiềm ẩn. Tư tưởng, quan điểm, thái độ của tác giả chứa đựng trong ý nghĩa của từ ngữ. Thay vì nêu trực tiếp: chính sách bóc lột xương máu dã man của thực dân Pháp, tác giả đã để cho hai chữ Thuế máu tự nó nói lên ý nghĩa. Bên cạnh bao thứ thuế nhằm bóc lột của cải, sức lực, có một thứ thuế độc ác nhất, man rợ nhất, kì lạ nhất là thứ thuế đánh vào mạng sống, xương máu người dân các nước thuộc địa. Do vậy, bản thân tên gọi của chương văn cũng đã toát lên tinh thần tố cáo, lên án, buộc tội chế độ thực dân Pháp.

    Kết cấu ba phần của chương là sự triển khai luận điểm bao trùm nói trên. Ba luận điểm cụ thể cũng được nêu ra qua tên gọi của ba phần, cũng với tính chất hàm ẩn tương tự. Chiến tranh và người bản xứ: Người dân các nước thuộc địa đã bị xô đẩy vào cuộc chiến tranh như thế nào? Chế độ lính tình nguyện: Phải chăng người dân thuộc địa nguyện đi lính cho Pháp? Kết quả của sự hi sinh: Người dân thuộc địa được gì sau cuộc chiến tranh? Cả 3 phần làm nổi bật tính chất dã man của Thuế máu đánh vào dân thuộc địa.

     Thái độ của các quan cai trị thực dân với người dân thuộc địa là một thái độ đổi thay đột ngột khiến người ta phải nghi ngờ sự chân thành. Trước đó, người dân thuộc địa chỉ là những kẻ "bẩn thỉu", giỏi lắm chỉ là phu kéo xe và ăn đòn ; thế mà bỗng biến thành những đứa "con yêu", những người "bạn hiền", thậm chí nhảy lên địa vị vinh dự chót vót: "chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do", sở dĩ có sự thay đổi đó vì bọn thực dân thống trị đang cần những người dân thuộc địa đi làm bia đỡ đạn cho họ.

     Để được gọi bằng những cái tên mĩ miều, người dân thuộc địa đã phải trả giá đắt: phải lìa bỏ quê hương ; phải phơi thây trên các bãi chiến trường ; phải chết chìm trên biển, trên những vùng đất xa lạ "lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế của các cấp chỉ huy và lấy xương mình chạm nên những chiếc gậy của các ngài thống chế" ; phải làm lụng kiệt sức "khạc ra từng miếng phổi, chẳng khác gì hít phải hơi ngạt vậy". Tám vạn người đã chết, một con số đầy máu và nước mắt.

 những thủ đoạn, mánh khoé bắt lính tàn ác, vô nhân đạo. Đó là tiến hành vây ráp, bắt giam, cưỡng bức phải đi lính, lợi dụng việc bắt lính để tham nhũng, bắt con nhà nghèo, tống tiền con nhà giàu. Không dừng lại ở đó, bọn chúng còn rêu rao là người dân tình nguyện "tấp nập đầu quân" cho bọn chúng. Thực chất, người dân không hề tình nguyện như lời lẽ bịp bợm của bọn cầm quyền. Họ tìm đủ mọi cách để không bị bắt đi lính. Họ bị xích tay điệu về tỉnh lị ; họ bị nhốt và áp tải xuống tàu, họ biểu tình, bạo động. Để đập tan luận điệu lừa bịp của bọn chúng, tác giả kể rằng: "Một bạn đồng nghiệp nói với chúng tôi: Dân lao khổ bản xứ ở Đông Dương từ bao đời nay bị bóp nặn bằng đủ mọi thứ thuế khóa, sưu sai, tạp dịch, bằng cưỡng bức phải mua rượu và thuốc phiện theo lệnh quan trên, từ 1915 – 1916 tới nay, lại còn phải chịu thêm cái vạ mộ lính nữa."

     Nguyễn Ái Quốc còn mỉa mai chua chát luận điệu dối trá ấy bằng những câu hỏi tu từ: "Nếu quả thật người An Nam phấn khởi đi lính đến thế, tại sao lại có cảnh, tốp thì bị xích tay điệu về tỉnh, tốp thì trước khi xuống tàu, bị nhốt trong một trường trung học ở Sài Gòn, có lính Pháp canh gác, lưỡi lê tuốt trần, đạn lên nòng sẵn? Những cuộc biểu tình đổ máu ở Cao Miên, những vụ bạo động ở Sài Gòn, ở Biên Hòa và nhiều nơi khác nữa, phải chăng là những biểu hiện của lòng sốt sắng đầu quân "tấp nập" và "không ngần ngại"?"

     Như vậy, chúng ta thấy trong phần Chế độ lính tình nguyện, nhà văn đã đưa ra hàng loạt dẫn chứng thực tố đối lập hoàn toàn với luận điệu bịp bợm của bọn thực dân cầm quyền để lột trần bản chất tham lam và tàn bạo của chúng trong chính sách cai trị đối với người dân thuộc địa.

 Kết quả của sự hi sinh. Vậy, sau khi người dân bản xứ ra chiến trường chiến đấu, sẵn sàng bỏ mạng mình vì bọn thực dân Pháp, đổi lại họ được gì? Kết quả mà họ nhận được là một con số không: "Để ghi nhớ công lao người lính An Nam, chẳng phải người ta đã lột hết tất cả của cải của họ, từ chiếc đồng hồ, bộ quần áo mới toanh mà họ bỏ tiền túi ra mua, đến các vật kỉ niệm đủ thứ,… trước khi đưa họ đến Mác-xây xuống tàu về nước đó sao? Chẳng phải người ta đã giao họ cho bọn súc sinh kiểm soát và đánh đập họ vô cớ đó sao?… Các anh đã bảo vệ Tổ quốc, thế là tốt. Bây giờ, chúng tôi không cần đến các anh nữa, cút đi!". 

     Như vậy, họ lại trở về "giống người bẩn thỉu" như trước khi xảy ra chiến tranh. Họ bị lột hết của cải, bị đánh đập, bị đối xử như súc vật, bị đuổi đi một cách trắng trợn: "cút đi!". Họ không được hưởng một chút công lí và chính nghĩa nào mà chính họ phải dùng tính mạng của mình để bảo vệ.

     Sự đối xử của bọn thực dân là vô cùng dã man. Chúng đã bóc lột xong thuế máu, chúng quên ngay những lời tâng bốc, xu nịnh và đối xử hết sức vô nhân đạo với những người chúng phải mang ơn.

     Các phần trong chương đều tập trung tố cáo việc bắt lính phục vụ cho chiến tranh. Sự lừa bịp của bọn thống trị đã bị vạch trần. Các lời tuyên bố của chúng mâu thuẫn với việc chúng làm. Người bản xứ đã chết thê thảm cho cuộc chiến tranh. Người bản xứ không hề tình nguyện như bọn thống trị rêu rao. Họ bị bắt lính và sau khi chiến tranh kết thúc, họ lại trở lại vị trí hèn mọn, bị ngược đãi, bị đối xử như súc vật. Kết quả của sự hi sinh là con số không.

     Tác giả đã dùng giọng văn châm biếm, dùng các hình ảnh so sánh, mỉa mai để vạch trần sự lừa mị, tráo trở của bọn thực dân cai trị. Bằng nhiều nguồn tư liệu của đồng nghiệp, của chính bọn thống trị nói ra (phủ Toàn quyền Đông Dương, một quan cai trị), của tình hình thực tế ở châu Á, châu Âu, châu Phi,… tác giả đã tố cáo một cách đanh thép tội ác bóc lột thuế máu dã man của thực dân Pháp.

     Đoạn trích là một văn bản chính luận, nhưng rất giàu yếu tố biểu cảm. Yếu tố biểu cảm thể hiện trong thái độ mỉa mai, châm biếm, đả kích kẻ thù. Chiến tranh hết sức ác liệt thì được gọi là "chiến tranh vui tươi", cảnh chết chìm vì tàu bị trúng ngư lôi thì được gọi là "chứng kiến cảnh kì diệu của trò biểu diễn khoa học về phóng ngư lôi" ; bãi chiến hường hoang vu được gọi là "những miền hoang vu thơ mộng" ; kẻ thống trị hiểm độc được gọi là "quan phụ mẫu nhân hậu",… Yếu tố biểu cảm còn được bộc lộ trực tiếp qua những từ ngữ có tính khẩu ngữ: lập tức, đùng một cái, đây, ấy thế mà,… thể hiện bằng thái độ thẳng thắn chất vân: Sao lại nướng họ ở miền xa xôi ấy? Tại sao có cảnh tốp thì bị xích tay? Phải chăng là… không ngần ngại? Chẳng phải… đó sao. Yếu tố biểu cảm đã làm cho bài văn có sức tố cáo mạnh mẽ, thuyết phục.

     Thuế máu của Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ thái độ đê mạt của đám quan cai trị thực dân đối với người dân thuộc địa ở hai thời điểm trước chiến tranh và sau khi chiến tranh xảy ra, đồng thời đồng cảm sâu sắc với số phận bi thảm của những người dân thuộc địa trong các cuộc chiến tranh phi nghĩa đó.

>> XEM THÊM: Phân Tích Bài Thơ Tức Cảnh Pác Bó

>> XEM THÊM: Phân tích bài thơ Ngắm trăng

>> XEM THÊM: Phân tích bài thơ Đi đường

Spread the love
Loading...

Check Also

Cảm nhận của em về bài thơ khi con tu hú của tố hữu

Cảm nhận của em về bài thơ khi con tu hú của tố hữu | Làm văn mẫu

(Văn mẫu lớp 8) – Em hãy nêu cảm nhận về bài thơ Khi con tu hú …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *