Home / VĂN MẪU THCS / Văn mẫu lớp 8 / Phân Tích Bài Nước Đại Việt Ta Trích Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi

Phân Tích Bài Nước Đại Việt Ta Trích Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi

(Văn mẫu lớp 8) – Em hãy phân tích văn bản Nước Đại Việt ta (Trích Bình Ngô đại cáo) của Nguyễn Trãi (Bài làm của học sinh Nguyễn Công Mạnh)

Đề bài: Phân tích Bài Nước Đại Việt ta Trích Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi.

BÀI LÀM

    Trong lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã phải chiến đấu chống lại biết bao thế lực xâm lược và đều giành được thắng lợi vẻ vang. Văn chương ghi lại sự chiến đấu, chiến thắng, ca ngợi nền độc lập dân tộc của chúng ta rất nhiều nhưng có lẽ chúng ta không thể không nhắc đến ba tác phẩm có ý nghĩa như ba bản tuyên ngôn độc lập: Sông núi nước Nam (Lí Thường Kiệt), Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi), Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh). Bình Ngô đại cáo được xem là một áng thiên cổ hùng văn của dân tộc, trong đó đoạn trích Nước Đại Việt ta thuộc phần đầu của bài cáo, có nhiệm vụ nêu luận đề chính nghĩa cho toàn bài.

     Nguyễn Trãi là người có công lớn trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược và xây dựng đất nước sau khi chiến thắng. Ông đã có nhiều cống hiến đáng kể của ông như dâng Bình Ngô sách với chiến lược tâm công (tác động vào lòng người); thừa lệnh Lê Lợi soạn thảo công văn giấy tờ, thư từ giao thiệp với quân Minh; cùng Lê Lợi và các tướng lĩnh bàn bạc quân mưu; kháng chiến thắng lợi thừa lệnh Lê Lợi viết Bình Ngô đại cáo. Cáo Là thể văn nghị luận cổ, thường được vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình bày một chủ trương hoặc công bố kết quả một sự nghiệp để mọi người cùng biết. Cáo có tính chất hùng biện, lời lẽ đanh thép, thường viết bằng văn biền ngẫu. Cáo bình Ngô do Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Thái Tổ soạn thảo có ý nghĩa như một bản tuyên ngôn độc lập được công bố năm 1428 sau khi quân ta đại thắng, làm tan dã 15 vạn viên binh của giặc, buộc Vương Thông phải rút quân về. Bài cáo chính là một bản thiên anh hùng ca khẳng định độc lập chủ quyền của dân tộc ta.

    Bài cáo của Nguyễn Trãi gồm 4 phần: Phần 1 nêu luận đề chính nghĩa, phần 2 lập bản cáo trạng tội ác của giặc Minh, phần 3 phản ánh quá trình cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ những ngày đầu gian khổ đến khi thẳng lợi và phần 4 là Lời tuyên bố kết thúc, khẳng định nền độc lập vững chắc của đất nước, mở ra 1 kỉ nguyên mới, đồng thời nêu lên bài học lịch sử. Đoạn trích Nước Đại Việt ta thuộc phần đầu của bài cáo. Nội dung của đoạn trích nêu luận đề chính nghĩa với ba nội dung chính: nguyên lí nhân nghĩa; chân lí về sự tồn tại có độc lập chủ quyền của dân tộc Đại Việt và sức mạnh của nguyên lí nhân nghĩa, sức mạnh của độc lập dân tộc.

Loading...

    Mở đầu đoạn trích, Nguyễn Trãi nêu lên nguyên lí nhân nghĩa:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

    Nguyên lí nhân nghĩa xuất hiện đầu đoạn trích, trở thành nguyên lý cơ bản, nền tảng để triển khai toàn bộ nội dung bài cáo. Tất cả những nội dung được phát triển về sau đều xoay quanh nguyên lý này. Cốt lõi tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là yên dân và trừ bạo. Yên dân là làm cho dân được an hưởng thái bình, hạnh phúc, trừ bạo có nghĩa là trừ diệt mọi thế lực bạo tàn. Đặt trong hoàn cảnh Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo thì người dân mà tác giả nói tới là người dân Đại Việt, đang bị xâm lược, còn kẻ bạo tàn chính là giặc Minh cướp nước. Như vậy với Nguyễn Trãi, nhân nghĩa cụ thể là yêu nước chống xâm lược. Nhân nghĩa không những trong mối quan hệ giữa người với người mà còn có trong quan hệ giữa dân tộc với dân tộc. Đây là nội dung mới, là sự phát triển của tư tưởng nhân nghĩa ở Nguyễn Trãi so với Nho giáo. Đây là 1 tư tưởng lớn, mới mẻ, tiến bộ, xuất phát từ một con người “tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” (Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ). Và tư tưởng này đến nay vẫn thể hiện rõ tính chất đúng đắn của nó qua chính sách của Đảng ta: do dân, vì dân. Có thể nói Nguyễn Trãi coi dân là trụ cột của đất nước, người chèo thuyền cũng là dân người lật thuyền cũng là dân. Đó là một tư tưởng rất hiện đại mà sau này HCM kế thừa và phát huy “lấy dân làm gốc”.

    Sau khi nêu lên tư tưởng nhân nghĩa, tác giả đã khẳng định Chân lí về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của dân tộc Đại Việt ở 8 câu tiếp:

Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,…

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác.

Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập,

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương,

Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,

Song hào kiệt đời nào cũng có.

     Nguyễn Trãi đã đưa ra những yếu tố căn bản để xác định độc lập, chủ quyền của dân tộc, đó là quốc hiệu, nền văn hiến lâu đời, cương vực lãnh thổ, phong tục tập quán, lịch sử riệng, chế độ riêng và nhân tài. Qua đây, chúng ta thấy so với thời Lý, học thuyết của Nguyễn Trãi về quốc gia, dân tộc phát triển cao hơn, mang tính toàn diện và sâu sắc hơn. Nguyễn Trãi đã ý thức được văn hiến và truyền thống lịch sử là yếu tố căn bản nhất, là hạt nhân để xác định dân tọc. sự sâu sắc của Nguyễn Trãi còn thể hiện ở chỗ: điều mà kẻ xâm lược luôn tìm cách phủ định (văn hiến nước nam) thì chính lại là thực tế, tồn tại với sức mạnh của chân lý khách quan. Nhà quân sự lỗi lạc Nguyễn Trãi đã đặt các triều đại nước đại việt song song với các triều đại của các nước Trung Hoa muốn tạo vị thế ngang hàng của đất nước ta và đất nước trung hoa. Để đập tan luận điệu của bọn xâm lược phương Bắc khi mà từ trước cho đến thời bấy giờ nước ta bị xem là nhỏ hơn, yếu hơn Trung Hoa vì vậy luôn các nước phương Bắc xâm lược. Bằng việc sử dụng từ “đế” tức là vua thiên tử, vua duy nhất, toàn quyền thay cho từ “vương” có nghĩa là vua chư hầu, phụ thuộc vào “đế”. Nguyễn Trãi đã khẳng định nước đại việt có chủ quyền ngang hàng với Phương Bắc. Bằng việc sử dụng các từ ngữ thể hiện tính chất hiển nhiên, vốn có, lâu đời của nước đại việt, biện pháp so sánh; bằng giọng văn hùng hồn, lập luận chặt chẽ và các câu văn biền ngẫu sóng đôi, Nguyễn Trãi đã khẳng định độc lập, chủ quyền quốc gia của dân tộc ta là một tất yếu khách quan, một chân lí thiêng liêng, là sức mạnh ko kẻ thù nào xâm phạm được.

phan tich bai nuoc dai viet ta
Phân Tích Bài Nước Đại Việt Ta Trích Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi

     Bằng một đoạn văn ngắn ngủi, Nguyễn Trãi đã thuyết phục người đọc, người nghe về những yếu tố góp phần khẳng định nền độc lập dân tộc. Chính bởi nền độc lập thiêng liêng ấy mà mỗi người dân Đại Việt đều sẵn sàng xả thân vì đất nước và dẫu kẻ thù có mạnh đến đâu cũng bị khuất phục bởi sức mạnh được khơi nguồn từ nền văn hiến lâu đời, từ chủ quyền lãnh thổ linh thiêng…

    Bởi vậy:

Lưu Cung tham công nên thất bại

Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong

Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô

Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã

Việc xưa xem xét

Chứng cớ còn ghi”

    Những dẫn chứng cụ thể của đoạn trích về những thất bại của giặc đanh thép như một bản cáo trạng. Hàng loạt tên của giặc được liệt kê: Lưu Cung, Triệu Tiết, Toa Đô, Ô Mã liền theo đó là những địa danh lẫy lừng gắn với thất bại thê thảm của giặc và cũng là chiến thắng vang dội của ta: cửa Hàm Tử, sông Bạch Đằng. Điều đặc biệt là đoạn văn này có nhịp câu thay đổi đột ngột, trở nên ngắn và đanh hơn; các câu lại đối nhau rất chặt “Lưu Cung” – “Triệu Tiết”, “tham công” – “thích lớn”, “nên thất bại” – “phải tiêu vong”, “Cửa Hàm Tử” – “Sông Bạch Đằng”, “bắt sống Toa Đô” – “giết tươi Ô Mã”,… Những yếu tố đó khiến đoạn văn giống như lời cảnh cáo đối với những âm mưu xâm lược của kẻ thù. Tác giả lấy những “chứng cớ còn ghi” đó để chứng minh sức mạnh của chân lý chính nghĩa, của độc lập dân tộc. đồng thời thể hiện niềm tự hào dân tộc. 

    Qua đoạn trích Nước Đại Việt ta, chúng ta thấy ý thức dân tộc ở đoạn trích này là sự tiếp nối và phát triển ý thức dân tộc ở bài thơ Sông núi nước Nam. Ở bài Sông núi nước Nam, tác giả cũng khẳng định sức mạnh của chân lý chính nghĩa, của độc lập dân tộc: kẻ xâm lược là giặc bạo ngược (nghịch lỗ) làm trái lẽ phải, chạm vào sách trời (thiên thư), cũng có nghĩa là đi ngược lại chân lý khách quan, nhất định sẽ chuốc lấy thất bại hoàn toàn (thủ bại hư).

    Tóm lại, đoạn trích Nước Đại Việt ta nói riêng, Đại Cáo bình ngô nói chung có ý nghĩa như  bản tuyên ngôn độc lập: Nước ta là đất nước có nền văn hiến lâu đời, có lãnh thổ riêng, phong tục tập quán riêng, có truyền thống lịch sử; kẻ xâm phạm là phản nhân nghĩa, nhất định thất bại. Áng thiên cổ hùng văn này, mãi về sau sẽ còn lưu danh sử sách, khẳng định tài năng vĩ đại và lòng yêu nước thiết tha của nhà quân sự, nhà chính trị, nhà văn, nhà thơ lỗi lạc – Ức Trai.

>> XEM THÊM: chỉ ra sự tiếp nối và phát triển của ý thức dân tộc trong bài nước đại việt ta

Spread the love
Loading...

Check Also

Cảm nhận của em về bài thơ khi con tu hú của tố hữu

Cảm nhận của em về bài thơ khi con tu hú của tố hữu | Làm văn mẫu

(Văn mẫu lớp 8) – Em hãy nêu cảm nhận về bài thơ Khi con tu hú …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *