Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 12 / Phân tích bài tuyên ngôn độc lập của hồ chí minh | Văn Mẫu

Phân tích bài tuyên ngôn độc lập của hồ chí minh | Văn Mẫu

(Văn mẫu lớp 12) – Em hãy phân tích Bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh

(Bài làm của học sinh Phạm Hà)

Đề bàiPhân tích bài tuyên ngôn độc lập của hồ chí minh

BÀI LÀM

       Suốt bốn ngàn năm lịch sử, dân tộc Việt nam luôn phải chiến đấu quyết liệt để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Một số áng văn ra đời vào những thời điểm trọng đại của lịch sử được coi như những Tuyên ngôn Độc lập mang dấu ấn một thời và có giá trị trường tồn cùng dân tộc: thế kỉ XI có Nam quốc sơn hà (tương truyền của Lí Thường Kiệt), thế kỉ XV có Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi), nhưng mãi đến thế kỉ XIX, một văn bản thực sự mang tên Tuyên ngôn Độc lập mới chính thức ra đời và được Hồ Chí Minh đọc trước toàn dân. Sau này, có lần Bác tâm sự “Trong đời tôi, tuy viết nhiều nhưng chưa bao giờ tôi viết được một bài hữu ích như lần này”.

Loading...

       Tuyên ngôn Độc lập được ra đời trong hoàn cảnh lịch sử trọng đại của đất nước Việt Nam. Ngày 19-8-1945 cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền ở Hà Nội về tay nhân dân. Đến ngày 26-8-1945 Bác Hồ từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội. Tại căn nhà số 48 Hàng Ngang Hà Nội Bác đã viết Tuyên ngôn Độc lậpVà ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình Bác đã đọc tuyên ngôn khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Bản tuyên ngôn ra đời trong tình thế vô cùng cấp bách, nền độc lập vừa mới giành được đã bị đe dọa bởi các thế lực phản động (Tàu, Tưởng, Anh, Pháp, Mĩ). Tuyên bố trước toàn dân, đồng bào, nhân dân thế giới những trước hết là bọn đế quốc Anh, Pháp, Mĩ- những kẻ lăm le xâm lược Việt Nam. Và hơn hết là muốn ngăn chặn, đập tan âm mưu xâm lược của Pháp, Mỹ.

     Tuyên ngôn Độc lập được Bác viết theo thể văn chính luận. Hồ Chí Minh chọn thể loại này vì văn phong phù hợp với tính chất trang trọng , trang nghiêm của bản tuyên ngôn. Văn chính luận của Người luôn gắn lí luận với thực tiễn, lập luận chặt chẽ, logic; lí lẽ mạch lạc, bằng chứng xác đáng; giọng văn hùng hồn, giàu tính luận chiến; chất trí tuề uyên thâm và giàu cảm xúc, sức thuyết phục rất cao. Và bản Tuyên ngôn Độc lập mang đầy đủ những đặc điểm này của văn chính luận Hồ Chí Minh.

      Mở đầu bản tuyên ngôn, Bác đã đưa ra hai căn cứ để làm cơ sở pháp lí. Đó là Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ  (1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp ( 1791 ). Bác đã trích dẫn những lời nói bất hủ trong hai bản tuyên ngôn này: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc" và "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi". 

     Trong 2 lời trích dẫn trên, Bác đã phát hiện một vấn đề chung mang tính trọng đại  và vô cùng cần thiết cho dân tộc Việt Nam. Đó là quyền con người (Nhân quyền). Cụ thể là quyền được sinh ra, quyền được sống tự do, bình đắng sung sướng và quyền mưu cầu hạnh phúc. Bằng việc viện dẫn hai bản tuyên ngôn bất hủ đó, Bác đã khẳng định nhân quyền của mỗi người, và đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

      Cách lập luận chặt chẽ, logic theo kiểu tam đoạn luận ấy làm cho hai bản tuyên ngôn trở thành hàng rào  pháp lí vừa khéo léo, mềm mỏng, vừa cứng cỏi, kiên quyết. Khéo léo, mềm mỏng vì việc trích dẫn ấy đã đề cao giá trị hiển nhiên của tư tưởng nhân đạo và của văn minh nhân loại, thể hiện sự tôn trọng của Việt Nam, của Bác đối với những tuyên ngôn bất hủ của người Pháp và người Mĩ. Từ đó, buộc Pháp và Mĩ phải thừa nhận tuyên ngôn của Việt Nam. Kiên quyết, cứng cỏi vì việc trích dẫn ấy còn nhắc nhở họ đừng phản bội tổ tiên mình, nhằm chặn đứng âm mưu xâm lược của thực dân Pháp và Đế quốc Mĩ. Người viết đã dùng lí lẽ của đối thủ để bác bỏ chính đối thủ ấy. Đó là chiến thuật “gậy ông đập lưng ông”.

      Ngoài ra, Bác còn tranh luận ngầm với Pháp, Mĩ khi đặt 3 cuộc cách mạng, 3 nền độc lập, 3 bản tuyên ngôn ngang hàng nhau gợi ra một cách kín đáo niềm tự hào dân tộc. 

       Và đặc biệt, hơn thế nữa, từ quyền con người, Bác đã có sự sáng tạo trong việc “ suy rộng ra” quyền độc lập tự do của  các dân tộc. Trong hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ, quyền tự do, bình đẳng, hạnh phúc… được khẳng định và bảo vệ cho từng cá nhân cụ thể, tức là bảo vệ nhân quyền. Còn đến Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã phát triển thành luận điểm “suy rộng ra” thành quyền dân tộc. Đó là quyền sống, quyền tự do. Đây là sự đóng góp đầy ý nghĩa của Bác đối với phong trào giải phóng các dân tộc trên thế giới. Nó được xem là “phát súng lệnh”  mở đầu cho cơn bão táp cách mạng làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân, giành lại độc lập ở các nước thuộc địa Á, Phi và Mĩ La-tinh. Vì vậy, có một nhà văn hóa nước ngoài đã nhận định: “ Cống hiến nổi tiếng của cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ người đã phát triển quyền lợi con người thành quyền lợi dân tộc”. Nói như người, tất cả các người dân đều có quyền quyết định vận mệnh của mình.

       Gắn với hoàn cảnh ra đời của bản tuyên ngôn, từ sự phân tích tình hình thực tiễn, Người đã tiên cảm thấy có những kẻ đang cố tình toan tính, dã tâm tìm cách chối cãi, chà đạp lên “lẽ phải”, chân lí. Kẻ đó là thực dân Pháp với luận điệu xảo trá, lừa bịp dư luận thế giới để quay lại đặt ách nô dịch. Kẻ đó là đế quốc Mĩ đang núp sau lưng quân Tưởng âm mưu nhòm ngó, can thiệp sâu vào Đông Dương.

      Tóm lại, đoạn mở đầu ngắn gọn, súc tích, hệ thống lập luận chặt chẽ, logíc, xác đáng, cách dùng văn chương đánh địch rất khéo. Toàn bộ phần một đã chứa đựng một tư tưởng lớn có nhiều ý nghĩa sâu sắc, mang sức thuyết phục mạnh mẽ thể hiện rõ nét sự thông minh, uyên bác trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

      Sau khi nêu cơ sở pháp lí của bản tuyên ngôn, Bác đưa ra cơ sở thực tiễn khách quan, cơ sở chủ quan và lời khẳng định quyền tự do – độc lập ở phần hai của văn bản. 

     Cơ sở thực tiễn khách quan ở đây là đối với Pháp, hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.Thực dân Pháp đi rêu rao khai hóa, nhưng thực chất là: "hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta". Chúng áp bức, bóc lột nhân dân ta trên các mặt về chính trị, kinh tế,…

      Trước hết, về chính trị, chúng thủ tiêu mọi quyền tự do dân chủ, ngăn cản sự đoàn kết và thống nhất nước nhà, lập nhà tù nhiều hơn trường học, chém giết người yêu nước, tắm các cuộc khởi nghĩa trong bể máu, thi hành chính sách ngu dân, đầu độc nhân dân ta bằng rượu cồn và thuốc phiện.

     Thứ hai, về kinh tế, thực dân Pháp bóc lột vơ vét của nhân dân ta đến xương tuỷ, cướp ruộng đất, hầm mỏ nguyên liệu, độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng, đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí . Gần đây nhất là gây ra nạn đói khiến từ Quảng Trị đến Bắc Kì hơn 2 triệu đồng bào bị chết đói.

     Bằng biện pháp nghệ thuật liệt kê, Bác đã khẳng định một cách rõ ràng rằng Pháp không phải là kẻ khai hoá Việt Nam như lời bịp bợm của bọn chúng. Và trong tình hình thực tế lúc bấy giờ, Bác đã xác định kẻ thù nguy hiểm nhất trực tiếp gây ra sự mất ổn định của nền độc lập dân tộc Việt Nam là thực dân Pháp. Vì vậy Người đã sử dụng một hệ thống lập luận chặt chẽ và đanh thép vừa để kết tội thực dân Pháp, vừa tranh thủ sự ủng hộ đồng tình của nhân loại tiến bộ trên cơ sở tố cáo tội ác của kẻ thù là thực dân Pháp trong 2 khoảng thời gian cụ thể:80 năm qua và trong 5 năm gần đây.

       Trong suốt 80 năm qua, thực dân Pháp luôn khoe khoang công bảo hộ, trước luận điệu ấy, Bác đã chỉ rõ tội ác của Pháp. Đó là trong 5 năm, Pháp đã bán nước ta 2 lần cho Nhật; chúng khủng bố Việt Minh và giết tù chính trị. Qua những số liệu cụ thể đó, Bác đã chỉ rõ không phải là công mà là tội, Pháp không phải bảo hộ Việt Nam. Bản tuyên ngôn còn kể tội Pháp phản bội Đồng minh, đầu hàng Nhật, khủng bố cách mạng Việt Nam đánh Nhật cứu nước. Bản tuyên ngôn nói rõ: dân tộc Việt Nam giành lại độc lập từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp.

       Phần luận tội này của Bác mang một sức mạnh lớn lao của sự thật, đã bác bỏ một cách đầy hiệu lực những luận điệu dối trá của chúng về công lao “khai hoá” và “bảo hộ” Đông Dương được phát ra từ Văn phòng Tổng thống Sác-lơ đơ Gôn, đăng tải ầm ỉ trên các báo ở Pa-ri, tạo một sự nhận thức mơ hồ về tình hình chính trị ở Việt Nam lúc bấy giờ trước dư luận của quốc tế. Thực dân Pháp rêu rao Đông Dương là của Pháp, Bác chỉ rõ " Từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật chứ không còn là thuộc địa của Pháp. Và chúng ta giành độc lập từ tay Nhật. “ Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”. 

      Tóm lại, đây là đoạn văn gây xúc động hàng triệu con tim, khơi dậy lòng phẫn nộ. Bởi, dù rất ngắn gọn nhưng giá trị nổi bật của đoạn văn là ở những lí lẽ xác đáng, bằng chứng xác thực không thể chối cãi, và đặc biệt là đoạn văn được diễn đạt bằng một ngôn ngữ sắc sảo, gợi cảm, hùng hồn để bác bỏ một cách đầy hiệu lực những luận điểm xảo trá của thực dân Pháp. 

     Sau khi Bác nêu tình hình thực tế khách quan, Người tiếp tục đưa ra cơ sở chủ quan của bản tuyên ngôn. Đó là nhân dân ta, mà tiêu biểu là Việt Minh. Kêu gọi người Pháp liên minh chống Nhật, Việt Minh đã cùng chiến tuyến với phe Đồng minh, đây lùi thảm họa Phát xít trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai; Việt Minh vẫn giữ thái độ khoan hồng, nhân đạo đối với người pháp; Việt Minh đã lãnh đạo nhân dân cả nước giành chính quyền lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khi Nhật đầu hàng Đồng minh; nhân dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật; rồi nhân dân ta làm cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. 

Phân tích bài tuyên ngôn độc lập của hồ chí minh

     Điệp ngữ “sự thật là” như một điệp khúc khẳng định sức mạnh của sự thật, góp phần tăng âm hưởng hùng biện cho bản tuyên ngôn. Góp phần bác bỏ mọi luận điệu của kẻ thù, đồng thời khẳng đinh một điều dân tộc VN có quyền làm chủ đất nước và được hưởng độc lập, tự do.

Dựa vào cơ sở thực tế khách quan và chủ quan, Bác đã khẳng định rằng điều kiện để một dân tộc tuyên bố nền độc lập trước cộng đồng quốc tế là phải phù hợp với công ước quốc tế. Về mặt khách quan, không lệ thuộc vào bất cứ thế lực chính trị nào, xác định quyền tự quyết trên mọi phương diện; còn về mặt chủ quan, toàn bộ cộng dồng dân tộc phải thực sự có chung khát vọng độc lập, tự do và ý chí bảo vệ quyền độc lập, tự do ấy.

      Với những cơ sở này, bản tuyên ngôn đã nhấn mạnh các thông điệp quan trọng. Thứ nhất, tuyên ngôn tuyên bố thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam, xóa bỏ mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam. Thứ hai, bản tuyên ngôn kêu gọi toan dân Việt Nam đoàn kết chống lại âm mưu của thực dân Pháp. Thứ ba, căn cứ vào những điều khoản qui định về nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở Hội nghị Tê-hê-răng và Cựu Kim Sơn, kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Thứ tư, Bác khẳng định chắc chắn rằng dân tộc ta đã chống ách nô lệ của Pháp 80 năm, đứng về phe Đồng Minh chống phát xít, nên dân tộc đó phải được tự do, phải được độc lập.

       Như vậy, dân tộc ta có đủ cơ sở để hưởng tự do và độc lập.

      Đoạn văn đã gây xúc động hàng triệu con tim, khơi dậy lòng phẫn nộ bởi lí lẽ xác đáng, bằng chứng xác thực, đặc biệt là đoạn văn được diễn đạt bằng ngôn ngữ sắc sảo, gợi cảm, hùng hồn.

      Dựa trên hai cơ sở, cơ sở pháp lí và cơ sở thực tế, ở phần cuối cùng của văn bản, Bác đã tuyên bố với nhân dân Việt Nam  và nhân dân thế giới rằng: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. 

      Lời tuyên bố của lãnh tụ thật đanh thép, vững vàng. Câu văn có sức nén thể hiện sức mạnh đoàn kết dân tộc, sẵn sàng hy sinh tất cả để bảo vệ thành quả cách mạng, trở thành lời thề sắt đá, thiêng liêng. Đây là lời tuyên bố của một dân tộc đứng lên đấu tranh xoá bỏ chế độ phong kiến, thực dân, thoát khỏi thân phận thuộc địa để hoa nhập vào cộng đồng nhân loại với tư cách một nước độc lập, dân chủ và tự do.

      Với những giá trị đã đạt được, bản Tuyên ngôn Độc lập xứng đáng là một áng văn chính luận mẫu mực, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng xác thực, giàu sức thuyết phục, ngôn ngữ gợi cảm, hùng hồn. Văn bản trở thành tác phẩm văn chương bất hủ cho muôn đời.

>>> XEM THÊM : 

Spread the love
Loading...

Check Also

tóm tắt cốt truyện kịch hồn trương ba da hàng thịt

Tóm tắt và nhận xét về cốt truyện kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ

(Văn mẫu lớp 12) – Em hãy tóm tắt và nhận xét về cốt truyện kịch Hồn …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *