Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 11 / Phân Tích Bài Thơ Vịnh Khoa Thi Hương Của Tú Xương | Văn Mẫu 11

Phân Tích Bài Thơ Vịnh Khoa Thi Hương Của Tú Xương | Văn Mẫu 11

(Văn mẫu lớp 11) – Em hãy phân tích bài thơ Vịnh khoa thi Hương của Trần Tế Xương(Bài làm của học sinh Trần Minh Hằng)

Đề bàiPhân Tích Bài Thơ Vịnh Khoa Thi Hương Của Tú Xương.

BÀI LÀM

     Cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp chính thức đặt ách thống trị trên toàn cõi Đông Dương. Tình hình văn hóa, giáo dục ở Việt Nam bắt đầu biến đổi sâu sắc. Nho học mạt vận, khoa cử đi vào cảnh chợ chiều. Tú Xương là nhạn nhân của tấn bi hài kịch khoa cử phong kiến cuối mùa. Chế độ thi cử đương thời không dung nạp nổi một tài năng phóng túng như ông. Có lẽ vì vậy, mà ông là người thường cay cú đối với chuyện thi cử và là nhà thơ viết nhiều bài thơ chua cay, đau xót về thi cử. Trong đó, bài Vịnh khoa thi Hương là một trong những tác phẩm tiêu biểu.

     Vịnh khoa thi Hương thuộc đề tài viết về thi cử (13 bài kể cả thơ và phú). Đây là bài lễ xướng danh khoa thi Đinh Dậu 1897. Thi Hương ở Hà Nội bị cấm không tổ chức. Vì vậy hai trường Nam Định và Hà Nội thi chung. Vì vậy mới có câu “Trường Nam thi lẫn với trường Hà”.

 

      Hai câu thơ mở đầu như một thông báo:

Loading...

“Nhà nước ba năm mở một khoa

Trường Nam thi lẫn với trường Hà”

      Khoa thi này do nhà nước tổ chức, cứ ba năm một lần thi Hương để chọn nhân tài. Đó là thông lệ. Song nó báo hiệu một cái gì khác trước. Dấu hiệu đổi thay dễ nhận thấy nhất là hai chữ “Nhà nước” được đặt lên đầu câu phá đề báo hiệu sự “thoái vị” của triều đình phong kiến trong tổ chức thi cử. Xua nay, các kì thi Hương đều do triều đình phong kiến đứng ra tổ chức, nhưng khi thực dân Pháp đặt ách đô hộ lên đất nước ta thì vai trò đó là do nhà nước bảo hộ đảm nhiệm. Hai chữ “Nhà nước” đầy ý vị mỉa mai, chua chát. Dấu hiệu thứ hai là ở từ “lẫn”. Một từ “lẫn” không chỉ giới thiệu hai trường Nam Định và Hà Nội thi chung mà báo hiệu một sự xáo trộn của việc thi cử, không còn được như trước nữa. Có nhiều hàm ý trong từ “lẫn” này. Chẳng cần phải đợi lâu, bốn câu tiếp miêu tả rất cụ thể:

“Lôi thôi sĩ tư vai đeo lọ
Ậm oẹ quan trương miêng thét loa
Long cắm rợp trời quan sứ đến
Váy lê quét đất mu đầm ra”

      Bốn câu tiếp theo miêu tả hình ảnh sỉ tử (người đi thi) và quan trường (người coi thi). Sĩ tử thì lôi thôi lếch thếch mất hết vẻ nho nhã, thư sinh; quan trường không còn quyền uy, mực thước, trang trọng như trước mà như nhân vật tuồng hề “ậm oẹ, thét loa”. Người chịu trách nhiệm tổ chức kì thi và sĩ tử đi thi thật không ra thế nào. Nó phản ánh sự suy vong của nền học vấn, lỗi thời của đạo Nho. Cách đảo trật tự cú pháp: “Lôi thôi sĩ tử”, “ậm oẹ quan trường” kết hợp với các từ giàu hình ảnh: “Lôi thôi, đeo lọ, rợp trời, quét đất” cùng với những từ chỉ về âm thanh: “ậm oẹ, thét loa” làm cho quang cảnh thi trở nên nhốn nháo, ô hợp mất đi vẻ trang nghiêm của một kì thi do quốc gia tổ chức. .  Hơn thếcòn có sự xuất hiện của vợ chồng quan chánh sứ, vì vậy, một lần nữa làm mất đi sự uy nghiêm vốn có trước kia ở trường thi. Sự xuất hiện đó có thể làm cho quang cảnh trường thi có vẻ trang nghiêm. Song hiện diện của Chính quyền thực dân lúc này càng tăng thêm sự chua chát. Quyết định số phận của trường thi (số phận của các sĩ tử) là một kẻ ngoại bang không biết gì về nho học. Nơi cửa khổng, sân trình là nơi mặc sức, tự nhiên lê váy của mụ đầm”. “Váy lê quét đất” đối với “cờ cấm rợp” (còn làm nhục quốc thể) chao ôi thật chua chát. So với bài thơ khác “Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt/Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng” thì sự nhục nhã ấy chỉ là một.

     Bốn câu thơ vạch trần sự nhếch nhác, tuỳ tiện của khoa cử lúc bấy giờ. Đồng thời ngầm thể hiện nỗi xót xa chua chát của nhà thơ và người đọc.

     Đến hai câu thơ cuối, thể hiện rõ thái độ của tác giả:

“Nhan tài đất bắc nào ai đó
Ngoảnh cổ ma trông cảnh nước nhà”

      Hai câu kết chuyển sang giọng điệu trữ tình, một thứ trữ tình công dân thắm thiết, nghẹn ngào. Hai câu kết có cấu trúc là một câu hỏi. Nhà thơ hỏi “Nhân tài đất Bắc” tức là hỏi tầng lớp trí thức. Đó là những sĩ tử đang chăm chăm chạy theo danh vọng. Ông hỏi mà như thức tỉnh họ về nỗi nhục mất nước. Kẻ thù ngoại bang có mặt ở lễ xướng danh này thì dẫu có đậu Tiến sĩ ra làm quan  cũng là thân phận của tay sai mà thôi. Đường công danh còn có ý nghĩa gì? Hai tiếng “ngoảnh cổ” như bộc lộ thái độ mạnh mẽ vừa thể hiện một nỗi tủi nhục. Nhà thơ hỏi người cũng chính là hỏi mình. Giọng thơ  dù đay nghiến mà vẫn có cái gì xót xa đến rưng rưng.

phan tich bai tho vinh khoa thi huong
Phân Tích Bài Thơ Vịnh Khoa Thi Hương Của Tú Xương | Văn Mẫu 11

      Bài thơ mở đầu bằng hai chữ “Nhà nước” và đóng lại với hai chữ “nước nhà” đầy ý nghĩa. Đảo vị trí một chữ thôi mà nghĩa khác nhau nhiều lắm. “Nhà nước” đặt ở đầu bài thơ là nhà nước bảo hộ của bọn thực dân, cái nhà nước ấy đã lật nhào cái triều đình phong kiến Việt Nam, nó thay đổi cả giáo dục, văn hóa truyền thống; nó đưa quan sứ Tây, bà đầm Tây đến trường thi, hạ nhục sĩ tử Bắc Hà. Còn hai chữ “nước nhà” đặt ở cuối bài thơ là Tổ quốc muôn đời của chúng ta với truyền thống thi – thư – lễ – nghĩa. Ngoảnh cổ lại mà xem, mà trông, mà suy nghĩ về nước nhà, Tổ quốc. Hai chữ “nước nhà” kết thúc bài thơ âm vang là nhịp đập trong trái tim yêu nước của Tú Xương. Tú Xương ấp ủ mãi vết thương mất nước ở trong tâm hồn. Chửi cái nhố nhăng của cảnh đời dưới ách của bọn thực dân, than sự suy đồi và muốn bảo vệ tinh thần dân tộc.

      Cảnh khoa thi Hương là một phần thực trạng đất nước, là sự biểu hiện nỗi nhục mất nước. Bài thơ cho thấy tấm lòng của Tú Xương đối với đất nước, ông căm ghét quân xâm lược, đau xót trước cảnh tình đất nước, muốn lay động thức tỉnh lương tâm và tinh thần dân tộc. 

>> XEM THÊM: Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ

Spread the love
Loading...

Check Also

suy nghĩ về ý kiến thơ trước hết là cuộc đời sau đó mới là nghệ thuật

Suy nghĩ về ý kiến Thơ trước hết là cuộc đời sau đó mới là nghệ thuật | Văn mẫu

(Văn mẫu lớp 11) – Em hãy nêu suy nghĩ về ý kiến của nhà thơ, …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *