Home / VĂN MẪU THCS / Văn mẫu lớp 8 / Phân Tích Bài Thơ Tức Cảnh Pác Bó Lớp 8 Của Hồ Chí Minh | Văn Mẫu

Phân Tích Bài Thơ Tức Cảnh Pác Bó Lớp 8 Của Hồ Chí Minh | Văn Mẫu

(Văn mẫu lớp 8) –  Phân tích bài thơ Tức cảnh Pác Bó của Hồ Chí Minh. (Bài làm của học sinh Lê Xuân Lâm)

Đề bàiPhân Tích Bài Thơ Tức Cảnh Pác Bó Lớp 8 Của Hồ Chí Minh

phan tich bai tho tuc canh pac bo
Phân Tích Bài Thơ Tức Cảnh Pác Bó Lớp 8 Của Hồ Chí Minh | Văn Mẫu

BÀI LÀM

     Hồ Chí Minh – nhà quân sự, chính trị tài ba, lỗi lạc; nhà văn – nhà thơ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Thơ Người toát lên phong thái ung dung, tự tại và tinh thần lạc quan. Điều này thể hiện rõ qua các bài thơ Nguyên tiêu, Ngắm trăng, Đi đường và đặc biệt là bài thơ Tức cảnh Pác Bó.

     Bác Hồ viết bài thơ Tức cảnh Pác Bó với bút danh Hồ Chí Minh. Đây là bút danh được Bác dùng từ đầu những năm 40 của thế kỷ XX đến khi mất; còn bút danh Nguyễn Ái Quốc được dùng chủ yếu trong khoảng thời gian người bôn ba ở nước ngoài.

     Bài thơ được sáng tác vào năm 1942, sau 30 năm bôn ba khắp năm châu bốn bể tìm đường cứu nước, tháng 2/1941 Bác mới trở về tổ quốc. Những ngày đầu trở về Bác sống và làm việc tại hang Pác Bó (Cốc Bó, nghĩa là đầu nguồn). Lúc bấy giờ, điều kiện sinh hoạt ở đây vô cùng gian khổ, ko có gạo chỉ có cháo bẹ, những hôm trời mưa to, rắn rết chui cả vào chỗ nằm, bệnh sốt sét lại hoành hành. Thế nhưng bác hồ vẫn rất vui vẻ vì sau bao nhiêu năm trời đằng đẵng xa quê, nay trở về sống trên mảnh đất tổ quốc.

Loading...

     Bài thơ được viết bằng thể thất ngôn tứ tuyệt đường luật, viết bằng chữ quốc ngữ. Bài thơ được chia làm bốn phần đúng với hình thức của thể thơ này, đó là khai – thừa – chuyển – hợp.

     Mở đầu bài thơ, Bác viết:

“Sáng ra bờ suối tối vào hang

                     Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng”

      “Sáng ra bờ suối tối vào hang”, câu thơ cho biết không gian sống của Bác là không gian núi rừng hoang sơ, dân dã: suối, hang. Không phải là tòa biệt thự đồ sộ, không phải là giường ấm, đệm êm dù Bác đang là một yếu nhân của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt, gian lao của đất nước, Người sẵn sàng sẻ chia thiếu thốn. Câu thơ có sự đối xứng nhịp nhàng: “sáng” – “tối”, “suối” – “hang”, “ra” – “vào”. Không gian và thời gian khép lại câu thơ đầy bóng tối: “tối”, “vào”, “hang”. Điều đó đã nhấn mạnh những gian khổ trong điều kiện ở của Bác. Có ý kiến đối lại câu thơ thành “ sáng, tối ra vào suối với hang”, mặc dù ý nghĩa của câu thơ không thay đổi nhưng thay đổi giá trị biểu cảm. Câu thơ đổi khiến ta hình dung về một cuộc sống xô bồ, lộn xộn, không hợp với nếp sống của Bác. Qua đây, phần nào cho ta thấy cái hay của câu thơ qua việc sử dụng từ ngữ chuẩn xác. Câu thơ đã khái quát được cuộc sống ung dung, thảnh thơi, nề nếp hòa điệu với nhịp sống núi rừng của Bác.

     Trong nhịp sống đó, điều kiện ăn uống của Bác cũng rất hạn chế: “Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng”. “Cháo bẹ” là cháo ngô, loại thức ăn đạm bạc thường ngày của đồng bào dân tộc Việt Bắc. “Rau măng” cũng vậy. Nhà thơ Phạm Tiến Duật từng viết “Hết rau rồi em có lấy măng không?”, nghĩa là măng còn đạm bạc hơn cả rau rừng (vốn đã bị coi là đạm bạc rồi!). Nhưng dẫu thiếu thôn, gian khổ đến vậy, Người “vẫn sẵn sàng” cho công việc cách mạng, phục vụ cho lợi ích của nước, của dân. Câu thơ thứ hai đem đến cho người đọc hai cách hiểu, cách hiểu thứ nhất đó là lương thực thực phẩm ở đây thật đầy đủ, đầy đủ đến dư thừa; cách hiểu thứ hai là dù phải ăn cháo be, rau măng gian khổ nhưng tinh thần cách mạng vẫn luôn sẵn sàng. Tuy nhiên, chúng ta nên hiểu theo cách một. Cách hiểu thứ hai không hẳn là sai nhưng không thật trúng với tinh thần của bài thơ. Nếu cho rằng dù gian khổ, khó khăn nhưng tinh thần cách mạng vẫn sẵn sàng thì câu thơ sẽ rơi vào tình trạng “lên gân” lộ liễu. Hoài Thanh từng nhận xét: thơ Bác đầy thép nhưng kho lên giọng thép. Cách hiểu thứ nhất phù hợp hơn vì bài thơ được viết với giọng điệu vui đùa, hóm hỉnh, tất cả lương thực đều dư thừa nhưng trên thực tế là rất thiếu thốn, gian khổ nhưng đầy niềm vui, lạc quan yêu đời.

     Hai câu thơ này gợi nhớ mạch cảm xúc trong bài Cảnh rừng việt bắc (1947) của Người:

“Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay

Vượn hót, chim kêu suốt cả ngày

… Non xanh nước biếc tha hồ dạo

Rượu ngọt, chè tươi, mặc sức say”

     Rõ ràng là với bác hồ, được sống giữa núi rừng, có suối có hang, có “vượn hót chim kêu”, “non xanh nước biếc” thật là thích thú, mọi thứ cần gì có nấy, “cháo bẹ rau măng hay rượu ngọt chè tươi” đều “vẫn sẵn sàng”, “tha hồ” “mặc sức” hưởng thụ.

     Sau khi nói về việc ăn ở, câu thơ thứ ba Bác viết về điều kiện làm việc và nội dung công việc Bác làm:

 “Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng”

     Bác sống giữa thiên nhiên, bàn đá chông chênh thể thiện hoàn cảnh thực tại rất khó khăn nhưng Bác vẫn làm tốt việc lớn: “dịch sử Đảng” – dịch cuốn lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, tìm con đường cứu nước, cứu dân. Cũng chính vì thế mà Bác đặt tên cho con suối ở đây là suối Lê Nin, ngọn núi trước mặt là núi Các Mác. Câu thơ có từ láy tượng hình “chông chênh”, rất tạo hình và gợi cảm; nghệ thuật đặc sắc của câu thơ này còn có đối ý và đối thanh. Đối điều kiện làm việc thiếu thốn tạm bợ với nội dung công việc quan trọng, thiêng liêng; đối thanh bằng (chông chênh) với dịch sử đảng – thanh trắc. Giọng thơ chắc khỏe, hài hòa, cân đối, khắc họa được hình tượng người chiến sĩ vừa chân thực vừa sinh động, có một tầm vóc lớn lao, một tư thế uy nghi, lồng lộng, giống như một bức tượng đài về vị lãnh tụ cách mạng.

     Như vậy, chúng ta thấy, ba câu thơ đầu đã là sự thật về hoàn cảnh sinh hoạt ở Pác Bó hết sức gian khổ nhưng đối với Bác cuộc sống đó lại thật giàu có, dư thừa, sang trọng. Những câu thơ có giọng khẩu khí, nói cho vui, phần nào khoa trương nhưng niềm vui thích của Bác ở đây là rất thật, không chút gượng gạo. 

     Trong một bài thơ tứ tuyệt, câu thứ ba thường có vị trí nổi bật, thường là hình ảnh trung tâm của bài thơ. Như vậy, trung tâm của bức tranh Pác Bó là hình tượng người chiến sĩ, là bức tượng đài về người chiến sĩ cách mạng. Và đến câu thơ hợp – câu kết của bài thì hình tượng đó hiện lên thật độc đáo:

                     “Cuộc đời cách mạng thật là sang!”

     Vậy, vì sao cuộc đời cách mạng gian khổ, khó khăn như vậy nhưng cuộc vẫn rất “sang”. Chữ “sang” như nhãn tự của bài thơ. Bác thấy sang vì được sống chan hòa với thiên nhiên, sang vì được làm công việc tìm tòi con đường cứu nước, sang vì tin chắc rằng thời cơ giải phóng dân tộc đang tới gần – điều mà bác chiến đấu suốt đời để đạt tới đang trở thành hiện thực.

     Cách nói và giọng thơ vui ở ba câu đầu đã làm nhẹ đi rất nhiều những gian khổ, thiếu thốn mà Bác đã phải trải qua trong những ngày đầu về nước. Nhưng đến câu tư, với từ “sang” đặt ở cuối cùng, như một nhãn tự, tỏa sáng tinh thần của toàn bài. Nó khiến cho tất cả những gian khổ, vất vả dường như đã bị xóa sạch. Bài thơ như một định nghĩa về cuộc đời sang trọng của người làm cách mạng. Đó là cuộc sống gian khổ nhưng tràn đầy niềm vui lớn lao, niềm vui được lo cho dân cho nước, được lãnh đạo cách mạng và đặc biệt, niềm vui ấy còn được nhân lên khi Người tin chắc rằng cơ hội giải phóng dân tộc đang đến gần.

     Tức cảnh Pác Bó là một bài thơ giản dị mà sâu sắc. Bài thơ thể hiện một đạo lí sống cao đẹp nhưng lời thơ tự nhiên, không một chút vẽ vời hoa mĩ. Giọng điệu thơ rất gần với cách nói hàng ngày, ta có cảm giác Bác không cố ý làm bài thơ nhưng nó cứ đọng lại mãi trong tâm trí ta, sức sống lâu bền của bài thơ chính là chỗ đó.

>> XEM THÊM: Phân tích bài thơ Ngắm trăng

>> XEM THÊM: Phân tích bài thơ Đi đường

>> XEM THÊM: Thuyết minh về lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

 

Spread the love
Loading...

Check Also

Cảm nhận của em về bài thơ khi con tu hú của tố hữu

Cảm nhận của em về bài thơ khi con tu hú của tố hữu | Làm văn mẫu

(Văn mẫu lớp 8) – Em hãy nêu cảm nhận về bài thơ Khi con tu hú …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *