Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 11 / Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Tự Tình 2 Của Hồ Xuân Hương | Văn Mẫu

Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Tự Tình 2 Của Hồ Xuân Hương | Văn Mẫu

(Văn mẫu lớp 11) – Em hãy phân tích bài thơ Tự tình (Bài II)  của Hồ Xuân Hương(Bài làm của học sinh Hà Anh)

Đề bàiBài Văn Phân Tích Bài Thơ Tự Tình 2 Của Hồ Xuân Hương.

BÀI LÀM

     Cuối thể kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX là giai đoạn hoàng kim của văn học trung đại với nhiều thành tựu xuất sắc về nội dung và nghệ thuật. Đây cũng là giai đoạn đánh dấu sự phát triển rực rỡ của ngôn ngữ văn học Nôm với sự kết tinh ở nhiều thể loại, trong đó có thơ Nôm luật Đường. Là một nữ thi sĩ hiếm hoi trong nền văn học Việt Nam trung đại, Hồ Xuân Hương sáng tác bằng cả chữ Hán và chữ Nôm nhưng dường như chỉ với ngôn ngữ văn học Nôm, cá tính sáng tạo của bà mới được bộc lộ đầy đủ và mãnh liệt. Bài thơ Tự tình (II) là bài thơ thể hiện đậm nét cá tính sáng tạo độc đáo của nữ thi sĩ được mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm”.

     Theo tài liệu lưu truyền, Hồ Xuân Hương quê ở Quỳnh Lưu, Nghệ An nhưng sống chủ yếu ở Thăng Long. Cuộc đời và  tình duyên của bà có nhiều éo le ngang trái. Cho đến nay, có nhiều vấn đề về cuộc đời và thơ văn của nữ sĩ Hồ Xuân Hương chưa được lí giải tường tận. Trước kia, người ta chỉ mới biết bà là tác giả của những bài thơ Nôm hết sức độc đáo và sắc sảo, nhưng gần đây, một số tài liệu mới phát hiện cho biết bà còn sáng tác cả thơ chữ Hán. Hồ Xuân Hương là một hiện tượng văn học rất độc đáo ở nhiều phương diện. Đây là một nhà thơ phụ nữ viết vềphụ nữ; thơ của bà vừa đậm chất trào phúng vừa đậm chất trữ tình; đậm đà chất giân gian từ đề tài, cảm hứng đến ngôn ngữ, hình tượng.

 

     Tự tình II (Kể nỗi lòng) nằm trong chùm thơ Tự tình gồm ba bài của Hồ Xuân Hương tập trung thể hiện cảm thức về thời gian và tâm trạng buồn tủi, phẫn uất trước duyên phận éo le và khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của nhà thơ. Theo nhà thơ Xuân Diệu, “Bộ 3 bài thơ Tự tình này cùng với bài Khóc vua Quang Trung của Công chúa Ngọc Hân làm thành một khóm riêng biệt, làm nên tiếng lòng chân thật của người đàn bà nói về tình cảm bản thân của đời mình trong văn học cổ điển Việt Nam”.

Loading...

Bài thơ được sáng tác theo thể thơ thất ngôn bát cú đường luật, có niêm luật chặt chẽ, có bố cục 4 phần: đề, thực, luận, kết. Tuy nhiên thể thơ này khi du nhập vào văn học Việt Nam đã được các nhà thơ trong đó có Hồ Xuân Hương sử dụng một cách linh hoạt đem lại hiệu quả thẩm mỹ cao cho tác phẩm.

     Hai câu đề:

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

         Trơ cái hồng nhan với nước non”

     Câu phá đề mở ra thời gian và không gian nghệ thuật rất đặc biệt. Thời gian “đêm  khuya”, vừa là khoảng thời gian con người đối diện với mình trong những suy tư, trăn trở vừa gợi ra một không gian vắng lặng, yên tĩnh. Và trong cái không gian yên tĩnh đó, từ đâu đó văng vẳng âm thanh trống canh dồn. Không gian vắng lặng, quạnh hiu, tiếng trống canh như nhắc nhở một cách quái ác thời gian như cứ dồn đuổi nhau trôi đi, trôi đi một cách uổng phí và vô nghĩa lí trên thân phận trớ trêu của người đàn bà vẫn khát khao hạnh phúc mà phải chịu cảnh chăn đơn, gối chiếc. Nhân vật trữ tình cảm nhận được bước đi hối hả, gấp gáp của thời gian của nhịp trống canh giục giã, thôi thúc. Bài Tự tình I lấy cảm hứng vào lúc gà báo sáng “Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom”, bài Tự tình II lấy cảm hứng vào lúc nửa đêm. Đó là thời khắc của hạnh phúc lứa đôi, của sum họp vợ chồng, vì thế cũng là thời khắc người vợ lẽ hay góa phụ cảm nhận được sâu sắc nhất, đầy đủ nhất, thấm thía nhất cảnh cô đơn, nỗi bất hạnh của thân phận. Khổ thơ hiện lên hình ảnh một người phụ nữ cô đơn, lẻ loi trong một tâm trạng rối bời, lo âu, buồn bã ý thức sâu sắc sự chảy trôi của thời gian, đời người. 

     Đêm khuya là lúc vạn vật chìm vào giấc ngủ, mọi hoạt động ban ngày đã dừng lại, đó cũng là lúc tâm tư sâu lắng nhất. Người đang thao thức, suy tư trong đêm khuya đó lại là một phụ nữ. Động từ “Trơ” vừa diễn tả sự trơ trọi, lẻ bóng vừa là sự bẽ bàng, tủi hổ mà còn thể hiện sự kiên cường, bền bỉ, thách thức. Nó đồng nghĩa với từ “trơ” trong “Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt” (Bà Huyện Thanh Quan). Thủ pháp đối : “cái hồng nhan” đối với “nước non” tô đậm cảm giác đơn côi, trống vắng.  Khi nhà thơ dùng đến 2 chữ “hồng nhan” thì có nghĩa ở người thiếu phụ này xuân sắc vẫn còn, xuân tình chưa cạn mà cứ phải “trơ” ra đó, không kẻ đoái hoài. Thủ pháp đảo và nhịp điệu 1/3/3 của câu thơ càng nhấn mạnh vào sự bẽ bàng của duyên phận. Câu thơ thể hiện nỗi xót xa, cay đắng, đau đớn của nhà thơ trước tình cảnh của chính mình.Tóm lại, ở hai cầu đề, đã thể hiện một cảm giác cô đơn, trống vắng trước vũ trụ và tủi hổ, bẽ bàng trước cuộc đời.

     Đến hai câu thực:

“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh

         Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”

     Tên của bài thơ là Tự tình cho nên câu thực đầu tiên thể hiện tình thực của Hồ Xuân Hương. Trong cô đơn giữa đêm khuya vắng lặng, người phụ nữ ấy đã phải mượn đến “chén rượu hương đưa…”để giải sầu, giải uất. Thế nhưng, rượu không vơi cạn nỗi niềm mà khiến nỗi niểm trở nên thấm thía, đau xót hơn bởi “say lại tỉnh”, chữ “lại” gợi lên cái vòng luẩn quẩn, trở đi trở lại trong bế tắc, xót xa, chán nản, thất vọng. Rượu không làm thi nhân vơi đi nỗi buồn, lại phải tìm đến trăng. Thi sĩ tìm đến với trăng nhưng trăng lại trở thành hình ảnh soi chiếu thân phận: “ Vầng trăng – bóng xế – khuyết chưa tròn”: Tuổi xuân qua đi mà duyên phận chưa trọn vẹn. Hai câu thực thể hiện một cách chân thực nỗi xót xa, cay đắng cho duyên phận dở dang, lỡ làng của một người phụ nữ tài hoa, ý thức sâu sắc về giá trị bản thân.

Thiên nhiên tiếp tục hiện ra trong cảm nhận của nhân vật trữ tình, ngoại cảnh chất chứa tâm trạng của con người:

“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

  Đâm toạc chân mây đá mấy hòn”

     Hai câu thơ gợi cảnh thiên nhiên và cảnh được gợi qua tâm trạng như cũng mang nỗi niềm phẫn uất, phản kháng dữ dội của con người.  Nhà thơ sử dụng các động từ mạnh “xiên, đâm” kết hợp với phụ ngữ “ngang, toạc” . Qua đây, ý muốn nói những vật hèn mọn như “rêu”, “đá” không chịu khuất phục mà “xiên ngang mặt đất”, “đâm toạc chân mây”. Bên cạnh đó, biện pháp đảo ngữ cũng được sử dụng một cách thành công, thể hiện sự bướng bỉnh, ngang ngạnh, phản kháng không cam chịu chấp nhận số phận. Hình ảnh thơ, ý thơ thể hiện phong cách mạnh mẽ, tự tin trong cách nhìn, cách cảm của Hồ Xuân Hương. Người phụ nữ này ngay cả trong lúc cô đơn, buồn bã vẫn thấy cảnh vật như vươn lên trong một sức sống mãnh liệt.

    Cuộc đời Hồ Xuân Hương là một chuỗi bi kịch, con người ấy luôn thách thức duyên phận, gắng gượng vươn lên nhưng rốt cuộc vẫn rơi vào tuyệt vọng. Hai câu kết của bài thơ này có thể xem là một minh chứng:

“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

 Mảnh tình san sẻ tí con con!”

phan tich bai tho tu tinh 2
Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Tự Tình 2 Của Hồ Xuân Hương | Văn Mẫu

    Giọng điệu câu thơ có ý vị của tiếng cười khẩy mỉa mai chua chát nhiều hơn là buồn tủi. Từ “xuân” trong câu thơ của Hồ Xuân Hương thật đa nghĩa. “Xuân” là mùa xuân của đất trời, mùa xuân ấy tuần hoàn. “Xuân” là tuổi xuân của một đời người, xuân ấy một đi không bao giờ trở lại. Sự trở lại của mùa xuân vũ trụ đồng nghĩa với sự ra đi của tuổi xuân, vì vậy nhà thơ cảm thấy “ngán”. Chữ “ngán” thể hiện sự mỏi mệt, chán chường, buông xuôi. Nói như thi sĩ Xuân Diệu:

“Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!”

     Đó là một tâm sự rất buồn, một nỗi sầu nhân thế vạn cổ, nó xuyên suốt từ thơ ca trung đại sang thơ ca hiện đại. Hai từ “lại” xếp cạnh nhau trong một câu thơ nhưng mang hai ý nghĩa khác nhau: từ “lại” thứ nhất mang nghĩa “thêm lần nữa”; từ “lại”thứ hai mang ý nghĩa của “sự tuần hoàn”, “sự trở lại”. Mùa xuân của đất trời trở lại thì ngày xanh của tuổi xuân lần lượt ra đi. Cách nói giảm dần càng làm cho nghịch cảnh éo le hơn: “Mảnh tình – san sẻ – tí – con con” . Mảnh tình đã là bé, lại bị “san sẻ” trở nên nhỏ bé hơn, cuối cùng chỉ còn “tí con con”, thật là tội nghiệp. Hai câu kết có thể được viết ra từ thân phận của một người gặp nhiều trắc trở, ngang trái trong tình duyên: hai lần mang thân đi làm lẽ, hai lần hạnh phúc đến và đi quá nhanh. Càng khao khát hạnh phúc càng thất vọng, mơ ước càng lớn thực tại càng mong manh.

     Tự tình – Bài thơ Đường luật cổ điển được viết bằng ngôn ngữ tiếng Việt bình dân và rất tự nhiên. Bài thơ hàm chứa ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Đó là tiếng lòng đau buồn, phẫn uất trước duyên phận hẩm hiu, là sự gắng gượng vẫy vùng vươn lên nhưng rốt cuộc vẫn không thoát khỏi bi kịch của nữ sĩ. 

Spread the love
Loading...

Check Also

suy nghĩ về ý kiến thơ trước hết là cuộc đời sau đó mới là nghệ thuật

Suy nghĩ về ý kiến Thơ trước hết là cuộc đời sau đó mới là nghệ thuật | Văn mẫu

(Văn mẫu lớp 11) – Em hãy nêu suy nghĩ về ý kiến của nhà thơ, …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *