Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 11 / Phân Tích Bài Thơ Tràng Giang Của Nhà Thơ Huy Cận | Văn Mẫu 11

Phân Tích Bài Thơ Tràng Giang Của Nhà Thơ Huy Cận | Văn Mẫu 11

(Văn mẫu lớp 11) – Em hãy phân tích bài thơ Tràng giang của nhà thơ Huy Cận (Bài làm của học sinh Diệu Hương)

Đề bàiPhân Tích Bài Thơ Tràng Giang Của Nhà Thơ Huy Cận.

BÀI LÀM

       Huy Cận là tác giả xuất sắc của phong trào thơ Mới, là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca Việt Nam hiện đại. Thơ của ông hàm xúc, giàu chất suy tưởng, triết lý. Tràng giang trích trong Lửa thiêng (1940) là một trong những bài thơ hay, tiêu biểu nhất của Huy cận. Bài thơ được viết vào mùa thu năm 1939 và cảm xúc được khơi gợi chủ yếu từ cảnh sông Hồng mênh mông sóng nước. Bài thơ thể hiện nỗi sầu của một cái tôi trước thiên nhiên mênh mông hiu quạnh, trong đó thấm đượm tấm lòng đối với quê hương, đất nước.

       Bài thơ có tựa đề Tràng giang, câu thơ đầu tiên nhắc lại tựa đề:

                                              Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Loading...

     Tràng giang chứ không phải trường giang, mặc dù tràng giangtrường giang đều có chung một ngữ nghĩa. Nhờ cách điệp vần ang, tràng giang góp phần tạo nên dư âm vang xa, trầm hùng của câu thơ mở đầu, tạo nên âm hưởng chung cho giọng điệu của cả bài thơ. Mặt khác tràng giang còn gợi lên được hình ảnh một con sông không những dài còn rộng, tránh nhầm lẫn với dòng Trường giang trong thơ Đường của Trung Quốc. Tuy vậy xét cho cùng, sức mạnh của cả hai câu thơ trên không phải là nghệ thuật miêu tả, mà ở nghệ thuật khơi gợi: khơi gợi được cảm xúc lẫn ấn tượng về một nỗi buồn triền miên kéo dài theo không gian (tràng giang) và theo thời gian (điệp điệp)

 

     Huy Cận cũng như phần đông các thi sĩ trong phong trào thơ mới đều chịu ảnh hưởng khá rõ của thơ tượng trưng phương Tây thế kỷ XIX. Tuy vậy, Huy Cận còn là người yêu thơ Đường và trân trọng vốn thơ ca dân gian. Trong sáng tác của ông, người đọc dễ dàng cảm nhận được dấu ấn của thơ Đường. Có đều đáng quý là chúng đã được Việt hóa một cách nhuần nhị.

     Ở khổ thơ đầu cũng như toàn bộ bài thơ Tràng giang, nghệ thuất đối của thơ Đường hết sức linh hoạt, chủ yếu là đối về ý, chứ không bị câu thúc về niêm luật như cách đối trong thơ cổ. Chẳng hạn, sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp đối với Con thuyền xuôi mái nước song song; thuyền về/ nước lại; một cành khô/lạc mấy dòng. Cấu trúc đăng đối đã tạo cho khổ thơ một âm điệu, tiết tấu nhịp nhàng, chậm rãi, trầm buồn. Nghệ thuật đối ý và đối xứng nói trên, một mặt làm cho giọng điệu bài thơ uyển chuyển, linh hoạt, tránh được những khuôn sáo, cứng nhắc dễ thấy ở không ít bài thơ viết theo lối Đường luật đầu thế kỷ XX, mặt khác vẫn tạo nên không khí trang trọng, sự cân xứng, nhịp nhàng. Bên cạnh đó nghệ thuật dùng từ láy điệp điệp, song song có hiệu quả nhất định gợi âm hưởng cổ kính.

      Tuy vậy, Tràng giang vẫn là một bài thơ hiện đại, hiện đại ở hình ảnh, thi liệu và cảm xúc:

                                                    Con thuyền xuôi mái nước song song

                                                    Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

                                                    Củi một cành khô lạc mấy dòng

     Hình ảnh con thuyền buông trôi theo dòng nước, gợi sự trôi nổi phó mặc. Thuyền và nước vận động ngược chiều nhau, gợi nỗi sầu chia li tan tác. Trên dòng nước ấy xuất hiện một cành củi khô, một cành đã chết ko còn sự sống, lạc giữa không gian sông nước mênh mông. Từ đắt trong câu thơ  là “mấy dòng” chứ không phải giữa dòng. Nếu giữa dòng là sự cụ thể về vị trí thì mấy dòng đủ gợi lên sự lạc lõng vô định nhỏ nhoi của cành củi khô.  Nếu hiểu dòng sông là biểu tượng cho dòng đời thì hình ảnh một cành củi khô đơn lẻ, trôi bồng bềnh trên dòng sông mênh mông sóng nước dễ gợi lên nỗi buồn về kiếp người bé nhỏ lênh đênh lạc loài vô định. Tất cả đã tạo nên sự tương quan đối lập: không gian tràng giang bao la/ thế giới cõi nhân sinh bé nhỏ đơn côi tạo nên cảm giác cô đơn, lẻ loi của con người trong trời đất.

      Bức tranh tràng giang tiếp tục được cảm nhận cụ thể ở khổ thơ thứ hai:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài trời rộng bến cô liêu

        Không giang tràng giang được thu về ở phạm vi không gian cồn nhỏ: hoang sơ, buồn bã, vắng lặng (lơ thơ, đìu hiu). Từ láy đìu hiu khiến ta liên tưởng đến câu thơ trong Chinh phụ ngâm: Non Kì quạnh quẽ trăng treo/ Bến Phì gió đổi đìu hiu mấy gò.

       Câu thơ: Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều tồn tại hai cách hiểu xuất phát từ cách hiểu từ “đâu” (có và không có tiếng chợ chiều đã vãn). Dẫu hiểu theo cách nào thì hình ảnh âm thanh chợ chiều đã vãn từ một làng xa trong câu thơ cũng gợi lên một nét buồn. Ở đây Huy Cận đã phủ nhận tất cả những gì thuộc về con người. Không gian vắng lặng cô tịch, chỉ có thiên nhiên trong khi sự sống của con người nghe xa vắng mơ hồ (không tiếng chợ chiều). Nỗi buồn cô đơn trống vắng, một niềm khát khao tìm đến cõi nhân thế để được giao hòa với con người.

Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài trời rộng bến cô liêu

       Đây là những câu thơ có giá trị tạo hình đặc sắc. Không gian được mở rộng và đầy cao thêm: chiều cao (chiều lên), chiều dài (sông dài), chiều rộng (trời rộng). “Sâu” gợi được ở người đọc ấn tượng thăm thẳm, hun hút khôn cùng. “Chót vót” khắc họa được chiều cao dường như vô tận. Sâu chót vót mà không phải là cao chót vót tả chiều cao thăm thẳm, khôn cùng, như vẽ lên cái thiên địa vô thủy, vô chung, vô cùng, vô tận. Cảnh vật càng thêm vắng lặng hiu hắt, chỉ có sông dài trời rộng với bến lẻ loi xa vắng. Con người ở đây trở nên bé nhỏ, có phận như bị rợn ngợp trước vũ trụ rộng lớn, vĩnh hằng và không thể không cảm thấy “lạc loài giữa cái mênh mông của đất trời, cái xa vắng của thời gian” (Hoài Thanh)

       Vẫn trong mạch cảm xúc được gọi ra từ hai khổ thơ đầu, nỗi buồn càng được khắc sâu qua khổ thơ thứ 3:

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

     Bên cạnh hình ảnh thuyền và nước như cùng về cõi vô biên, hình ảnh cành củi khô dập dềnh trên sóng nước ở khổ thơ đầu, đến khổ thơ này, ấn tượng về sự lênh đênh, phiêu dạt vô định càng trở nên luyến láy. Toàn cảnh sông nước, trời rộng tuyệt nhiên không có bóng dáng sự sống con người: không chuyến đò, không cầu, chỉ có bờ xanh tiếp bãi vàng. Chuyến đò ngang và cây cầu bắc qua sông là phương tiện để người hai bên sông qua lại, thể hiện sự giao nối đôi bờ, tín hiệu của sự giao hòa, sự sống thân mật ấm cúng. Không chuyến đò ngang, không cầu là không có sự giao hòa, sự sống thân mật, ấm cúng giữa con người với con người. Vì thế nỗi buồn ở bài thơ không chỉ là nỗi buồn mênh mông trước cảnh trời rộng sông dài mà còn là nỗi buồn về cuộc đời về nhân thế.

       Nhà thơ Huy Cận đã khép lại bức tranh tràng giang bằng một bức tranh thiên nhiên kì vĩ:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

       Khổ thơ này mượn một số cách diễn đạt của thơ Đường nhưng vẫn giữ được nét riêng biệt của thơ mới và thể hiện rõ nét hồn thơ Huy Cận. Ở đây thiên nhiên tuy buồn, nhưng tráng lệ. Mùa thu, nhưng đám mây trắng đùn lên trùng điệp ở phía chân trời. Ánh dương phản chiếu vào làm những đám mây lấp lánh như những ngọn núi bạc. Nét đặc trưng này của mùa thu đã được Đỗ Phủ mô tả trong bài thơ Thu hứng:

Lưng trời sóng gợn lòng sông thẳm

Mặt đất mây đùn của ải xa.

      Lấy lại ý thơ của người xưa, hình ảnh mây cao đùn núi bạc tạo ấn tượng về sự hùng vĩ của thiên nhiên. Trước cảnh sông nước, mây trời bao la và hũng vĩ ấy, bỗng hiện lên một cánh chim bé nhỏ, dáng bao chao nghiêng bởi ánh chiều đang đè nặng lên đôi cánh. Hình ảnh cánh chim đơn lẻ trong buổi chiều tà thường dễ gợi lên nỗi buồn xa vắng. Điều đáng nói ở đây là hiệu quả của nghệ thuật đối lập. Đối lập giữa cánh chim nhỏ bé, cô đơn bơ vơ với vũ trụ bao la, hùng vĩ. Phải chăng, điều này đã làm cho cảnh thiên nhiên rộng hơn, tráng lệ hơn và đặc biệt cũng buồn hơn.

       Hai câu thơ cuối mang đậm chất cổ điển, bởi kế thừa ý thơ của Thôi Hiệu trong bài Hoàng Hạc lâu:

Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai

       Nếu như Thôi Hiệu nhìn khói sóng nhớ quê hương thì Huy Cận không cần khói sóng – tức là không cần có cái gợi nhớ – mà vẫn dợn dợn nhớ nhà. Rõ ràng, nỗi nhớ của Huy Cận da diết hơn, thường trực hơn, mãnh liệt và cháy bỏng hơn. Vì thế nó hiện đại hơn.

phan tich bai tho trang giang
Phân Tích Bài Thơ Tràng Giang Của Nhà Thơ Huy Cận | Văn Mẫu 11

       Như vậy đi suốt bài thơ là một nỗi buồn triền miên vô tận. Đó là nỗi buồn của thế hệ thanh niên tri thức, của cả dân tộc Việt Nam trong những năm tháng mất nước, ngột ngạt, bế tắc dưới thời thuộc Pháp. Nỗi buồn trong sáng, nỗi buồn từ lòng yêu nước kín đáo của nhà thơ.

      Cổ kính, trang nghiêm, đậm chất Đường thi nhưng Tràng giang vẫn là một bài thơ rất Việt Nam. Con sóng uốn lượn, con thuyền xuôi mái chèo, cảnh củi khô dập dềnh, cánh bèo lênh đênh, chợ chiều của làng quê, cánh chim trong buổi chiều tà … thật gần  gũi với người Việt Nam. Đọc bài thơ này có người nhớ đến cái làng ở vùng sơn cước heo hút bên bờ sông Thâm, cạnh núi Mồng Gà thuộc huyện Hương Sơn (nay là huyện Vụ Quang) tỉnh Hà Tĩnh  – nơi chôn rau cắt rốn của Huy Cận.

      Xét ở một phương diện khác, Tràng giang đúng là một bài thơ ca hát non sông đất nước; do đó dọn đường cho lòng yêu giang sơn Tổ quốc (Xuân Diệu)

       Bằng bài thơ Tràng giang vừa cổ điển, vừa hiện đại, Huy Cận đã thể hiện nỗi sầu nhân thế, nỗi buồn mênh mông trước vũ trụ rộng lớn, niềm khao khát gắn bó với cuộc đời và tình yêu đối với quê hương đất nước.

Spread the love
Loading...

Check Also

suy nghĩ về ý kiến thơ trước hết là cuộc đời sau đó mới là nghệ thuật

Suy nghĩ về ý kiến Thơ trước hết là cuộc đời sau đó mới là nghệ thuật | Văn mẫu

(Văn mẫu lớp 11) – Em hãy nêu suy nghĩ về ý kiến của nhà thơ, …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *