Home / VĂN MẪU THCS / Văn mẫu lớp 8 / Phân Tích Bài Thơ Quê Hương Lớp 8 Của Tế Hanh / Văn Mẫu

Phân Tích Bài Thơ Quê Hương Lớp 8 Của Tế Hanh / Văn Mẫu

(Văn mẫu lớp 8) –  Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh (Bài làm của học sinh Gia Hòa)

Đề bài: Phân Tích Bài Thơ Quê Hương Lớp 8 Của Tế Hanh / Văn Mẫu

BÀI LÀM

     Quê hương trong mỗi người chúng ta là những cảm nhận khác nhau. Là nơi chúng ta sinh ra, được nuôi dưỡng bởi những câu ca ru ngọt ngào của mẹ:

Quê hương là chùm khế ngọt,
Cho con trèo hái mỗi ngày.
Quê hương là đường đi học 
Con về rợp bướm vàng bay….

     Trong nền văn học Việt Nam đề tài quê hương luôn là đề tài mở muôn thuở, bởi đây là nơi cuội nguồn của mỗi chúng ta, nó thiêng liêng, mỗi vùng miền khác nhau có nét đẹp riêng. Bởi thế quê hương trong thơ ca luôn ấm áp, trữ tình, giàu cảm xúc, luôn lắng động niềm vui tự hào trong tâm hồn mỗi người. Tiêu biểu trong số những tác phẩm viết về quê hương là bài thơ Quê hương của nhà thơ Tế Hanh.

Loading...

     Tế Hanh sinh năm 1921 tại một làng chài ven biển tỉnh Quảng Ngãi.  Ông xuất hiện ở chặng cuối của phong trong thơ Mới (1930-1945) với những bài thơ mang nặng nỗi buồn và tình yêu quê hương thắm thiết.

Bài thơ “Quê hương” được rút trong tập “Nghẹn ngào” (1939), sau được in lại trong tập “Hoa niên”  (1945), khi đó nhà thơ mới 17 tuổi, rời xa quê hương ra Huế học. Đây cũng là sáng tác mở đầu đầy ý nghĩa.

    Quê hương đã trỏ thành một hệ thống hình tượng “ám ảnh” suốt đời thơ Tế Hanh. Thuở hồn nhiên cắp sách đến trường, quê hương trong mắt cậu học trò nghịch ngợm là những “con đường nhỏ chạy lang thang, kéo nỗi buồn không dạo khắp làng” là “con sông xanh biếc, nước gương trong soi tóc những hàng tre”. Khi đã trưởng thành “cầm súng xa nhà đi kháng chiến”, tâm hồn nhà thơ vẫn trở về quấn quýt với con sông quê, mảnh vườn xưa, cái giếng đầu làng. Xa quê từ năm 15 tuổi, mấy chục năm sau Tế Hanh vẫn xốn xang khi nghe một điệu bài chòi trên sóng phát thanh. Tình yêu quê hương đã trỏ’thành niềm thao thức khôn nguôi khiến nhà thơ nhìn thấy mặt quê hương hiển hiện trên gương mặt người yêu dấu… Có thể nói, quê hương là điểm khởi đầu sự nghiệp sáng tác của Tế Hanh và là nguồn đề tài không bao giờ vơi cạn của nhà thơ xứ Quảng.

     Bài thơ này thuộc thể thơ 8 chữ gồm nhiều khổ với lối gieo vần chân liên tiếp. Đây là thể thơ thích hợp khi diễn tả dòng cảm xúc miên man, cuồn cuộn của tác giả. Cũng như Nhớ Rừng, Quê Hương thuộc thể thơ 8 chữ nhưng đó là thể thơ 8 chữ xuất hiện ở phong trào thơ Mới (khác với thể hát nói trước đó). So với hát nói, thể thơ 8 chữ trong thơ Mới có hình thức tự do hơn, độ dài ngắn ko hạn định; có thể liền mạch hoặc nhiều khổ, số câu, số khổ trong bài thơ ko bắt buộc; gieo vần liền và vần ôm với sự hoán vị bằng trắc đều đặn. vì vậy bài thơ 8 chũ tuy khá tự do nhưng vần điệu vẫn nhịp nhàng, đều đặn, mở ra khả năng diễn tả phong phú.

     Điểm đặc biệt của bài thơ này là Tế Hanh đã lấy câu thơ của phụ thân làm lời đề từ cho bài thơ của mình. Chính câu thơ này đã “khơi nguồn cảm hứng cho tác giả trong quá trình sáng tạo. Bằng việc làm này, ông đã thể hiện được thái độ kính trọng đối với phụ thân, và sâu sắc hơn cả là biểu hiện sự hàm ơn. Hàm ơn không chỉ bởi nhà thơ tưởng nhớ công sinh thành trời biển mà còn vì công “nuôi dưỡng tâm hồn“, công lao dắt dẫn mình vào thế giới diệu kì của thi ca.

  Bài thơ được chia làm 4 phần: 2 câu đầu tác giả giới thiệu chung về “làng tôi, ”6 câu tiếp theo tả cảnh thuyền ra khơi đánh cá, 8 câu tiếp theo là cảnh thuyền từ biển trở vềvà 4 câu cuối viết vềtình cảm của tác giả đối với làng quê vạn chài nơi vùng núi Ấn – sông Trà.

    Mở đầu bài thơ là lời giới thiệu chung về làng quê:

Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới

Nước bao vây cách biển nửa ngày sông

    Hai câu thơ này, nhà thơ giới thiệu về nghề nghiệp của quê mình, đó là nghề chài lưới – đánh bắt cá; vị trí địa lý xung quanh là nước, gần biển. Như vậy, qua hai câu thơ này, độc giả biết được quê hương Tế Hanh là vùng sông nước, người dân làm nghề đánh bắt cá. Đây là lời giới thiệu ngắn gọn về “làng tôi”, lời kể mộc mạc, tự nhiên nhưng nêu rõ được những thông tin quan trọng. Đây là 2 câu thơ giản dị nhưng thiếu lời giới thiệu này, quê hương sẽ trở nên trừu tượng, thiếu sức biểu cảm.

    Sau khi giới thiệu ngắn gọn về quê hương của mình, Tế Hanh tiếp tục đưa người đọc đến với bức tranh đoàn thuyền ra khơi đánh cá ở khổ thơ thứ hai.

    Mở đầu khổ thơ, tác giả viết:

Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng

Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá

    Hai câu thơ nói về thời gian và không gian đoàn thuyền ra khơi. Về thời gian, đó là một buổi sớm mai hồng; Không gian của đoàn thuyền ra khơi đánh cá là cảnh trời trong, gió nhẹ. Câu thơ mở ra cảnh một bầu trời cao rộng, trong trẻo, nhuốm nắng hồng bình minh, ko gian bát ngát rực rỡ. Không gian tươi đẹp này báo hiệu chuyến ra khơi bình yên, tốt đẹp của người dân làng vạn chài.

    Trong không gian tươi đẹp đó, đó nổi bật h/ả con thuyền ra khơi. Vậy Hình ảnh con thuyền được nhà thơ miêu tả như thế nào trong 2 câu thơ tiếp theo? Con thuyền được so sánh như con tuấn mã, một con ngựa đẹp, khỏe và phi nhanh. Nhà thơ còn sử dụng các động từ mạnh: hăng, phăng, vượt và biện pháp nghệ thuật nhân hóa khi miêu tả con thuyền ra khơi. Bằng những biện pháp nghệ thuật đó, tác giả đã diễn tả thật ấn tượng khí thế băng tới dũng mãnh của con thuyền ra khơi, làm toát lên một sức sống mạnh mẽ, một vẻ đẹp hùng tráng đầy hấp dẫn. Với hai câu thơ này, Tế Hanh đã đưa người đọc đến với bức tranh lao động đầy hứng khởi và dạt dào sức sống.

    Hai câu tiếp theo miêu tả cánh buồm căng rất đẹp, một vẻ đẹp lãng mạn với những so sánh bất ngờ:

Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng

Rướn thân trắng bao la thâu góp gió

    Chúng ta biết, trong thi ca, có biết bao thi tứ đã nảy sinh từ cánh buồm kiêu hãnh và thơ mộng. Lec-môn-tôp một nhà thơ Nga vĩ đại có bài thơ trữ tình nổi tiếng về một cánh buồm khao khát đời giông tố:

“Thấp thoáng xa xa một cánh buồm Chập chờn trên biển cả mù sương Buồm kiếm tìm chi nơi đất lạ?

Giã từ chi đó chốn quê hương?”

(Thuý Toàn dịch)

   Thơ Nguyễn Bính cũng có một cánh buồm đau đáu nhớ nhung:

‘”Anh đi đấy, anh về đâu?

Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm”…

Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh
Phân Tích Bài Thơ Quê Hương Lớp 8 Của Tế Hanh / Văn Mẫu

    Sau này, Hoàng Trung Thông còn mượn hình tượng Những cánh buồm để trò chuyện với con mình… Có bao nhiêu cánh buồm trong thơ ca là có bấy nhiêu cách cảm nghĩ khác nhau về hình tượng đó. Đối với Tế Hanh, cánh buồm như một biểu tượng của làng quê. Cánh buồm mỏng manh như “mảnh hồn làng” nhưng nó mở rộng “bao la” như tâm hồn rộng mở của quê hương, nó vươn lên, dân thân và che chở… Từ một “cánh buồm” hết sức cụ thể đem so với “mảnh hồn làng” vô cùng trừu tượng, nhà thơ đã mỏ’ ra một khoảng trời thênh thang cho những liên tưởng của người đọc: cánh buồm, hay mảnh hồn làng, là sự che chỏ’ cho thuyền nhỏ bé, là sức mạnh (góp gió) đẩy thuyền đi xa, là phương tiện để chèo lái con thuyền… Người dân chài ra khơi như mang đi một phần máu thịt quê hương, cánh buồm gắn với con thuyền như “hồn vía” làng quê chỏ’ che, neo giữ họ… Kẻ xa quê lâu ngày, thoáng thấy cánh buồm tưởng như bắt gặp hình bóng của miền quê yêu dấu… Tế Hanh, với trái tim mẫn cảm của một nhà thơ, đã thấy ỏ cánh buồm, tâm hồn lộng gió của quê hương mình

     Cánh buồm vượt phong ba, bão táp đưa đoàn thuyền vượt sóng ra khơi lột tả được toàn bộ khí thế oai hùng, mạnh mẽ của làng chài. Vậy, sau những ngày bôn ba trên biển, con thuyền sẽ trở về như thế nào? Điều này được thể hiện trong 8 câu thơ tiếp theo:

Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ

Dân chài lưới tấp nập đón ghe về

Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe

Những con cá tươi ngon thân bạc trắng

    Đây là đoạn thơ miêu tả cảnh dân làng đón đoàn thuyền cá trở về. Bốn câu đầu là một bức tranh lao động náo nhiệt, đầy ắp niềm vui và sự sống, toát ra từ không khí ồn ào, tấp nập, đông vui, từ những chiếc ghe đầy cá, từ những con cá tươi ngon, từ lời cảm tạ chân thành đất trời đã sóng yên bể lặng để đoàn thuyền trở về bình yên.

    Bốn câu sau miêu tả người dân chài và con thuyền nằm nghỉ trên bến sau chuyến ra khơi:

Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm

Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm

Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ

     Hình ảnh người dân chài được miêu tả bằng bút pháp tả thực. Đó là những người có làn da ngăm rám nắng, nước da nhuộm nắng, nhuộm gió. Thân hình vạm vỡ và thấm đậm vị mặn mòi, nồng tỏa vị xa xăm của biển khơi. Hình ảnh người dân chài được miêu tả vừa chân thực vừa lãng mạn, trở nên có tầm vóc phi thường và có những nét rất riêng. Còn con thuyền được lột tả bằng các động từ im, trở về, nằm, nghe. Như vậy, chúng ta thấy, Tác giả không chỉ thấy con thuyền nằm im trên bến mà còn thấy sự mệt mỏi say sưa của nó, và còn cảm thấy con thuyền ấy như đang lắng nghe chất muối thấm dần trong thớ vở. Bằng biện pháp nghệ thuật nhânhóa, Con thuyền vô tri đã như một cơ thể sống, một con người mệt mỏi nằm nghỉ thanh thản sau những ngày lao động vất vả. Con thuyền được nhân hóa độc đáo trở thanh một tâm hồn tinh tế đang nằm lắng nghe chất mặn mòi của biển cả.

Những câu thơ trên tác giả vẽ nên một khung cảnh yên bình, gợi nhớ đến hình ảnh con thuyền trong thơ xưa:

“Con thuyền trên bến suốt ngày ngơi”

(Nguyễn Trãi)

     Bức tranh lao động sinh hoạt bình dị nhưng đông vui, tấp nập của làng chài không chỉ thể hiện niềm vui của tác giả mà trên hết diễn tả niềm tự hào khôn nguôi của ông khi được làm một người con của vùng quê sông nước. để mỗi lần đi xa, ông lại ngóng vọng, nhớ nhung. Khổ thơ cuối cùng thể hiện nỗi nhớ da diết ấy của nhà thơ:

Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ 
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi, 
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi, 
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!

    Khi viết bài thơ này, cậu học trò Tế Hanh đang đi học ở huế. Xa quê, nhà thơ nhớ về quê hương mình. Cậu nhớ màu xanh của nước. nhớ màu bạc của cá. Màu vôi của cánh buồm, nhớ hình ảnh con thuyền và nỗi nhớ da diết nhất đó là nhớ mùi mặn mòi của biển. Với Tế Hanh, cái hương vị lao động làng chài đó chính là hương vị riêng đầy quyến rũ mà chỉ ở quê hương miền biển mới có được. Nỗi nhớ ấy được bộc lộ một cách trực tiếp , đó là Nỗi nhớ chân thành, tha thiết. Nỗi nhớ luôn thường trực, bền bỉ biểu hiện tấm lòng yêu quê hương đất nước thiết tha của người con xứ Quảng.

    Bài thơ Quê hương mộc mạc, tự nhiên nhưng rất sâu sắc và thấm thía bởi nó được viết lên từ cảm xúc chân thành. Sức hấp dẫn của nó trước hết là ở những hình ảnh tiêu biểu, chọn lọc và ngôn ngữ tự nhiên, trong sáng. Những biện pháp nghệ thuật so sánh, ví von, nhân hóa kết hợp hài hòa khiến cho bài thơ giống như một bức tranh phong cảnh tuyệt vời được vẽ nên từ tình yêu tha thiết mà Tế Hanh dành trọn cho quê hương. Có thể coi bài thơ này như một cung đàn dịu ngọt của những tấm lòng gắn bó sâu nặng với quê hương xứ sở bởi đây là mảnh tâm hồn trong trẻo nhất, đằm thắm nhất của Tế Hanh dành cho mảnh đất chôn nhau cắt rốn.

>>XEM THÊM 

1. Nêu cảm nhận của em về bài thơ Quê hương của Tế Hanh

2. Phân Tích Bài Đi Bộ Ngao Du Của Ru-Xô | Ê Min Hay Về Giáo Dục

3. Phân Tích Bài Thơ Muốn Làm Thằng Cuội Của Tản Đà | Văn Mẫu 8

Spread the love
Loading...

Check Also

Cảm nhận của em về bài thơ khi con tu hú của tố hữu

Cảm nhận của em về bài thơ khi con tu hú của tố hữu | Làm văn mẫu

(Văn mẫu lớp 8) – Em hãy nêu cảm nhận về bài thơ Khi con tu hú …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *