Home / VĂN MẪU THCS / Văn mẫu lớp 8 / Phân tích bài thơ ông đồ của vũ đình liên | Văn Mẫu

Phân tích bài thơ ông đồ của vũ đình liên | Văn Mẫu

(Văn mẫu lớp 8) – Em hãy phân tích bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên 

(Bài làm của học sinh Trương Thanh Bình)

Đề bàiPhân Tích Bài Thơ Ông Đồ Của Vũ Đình Liên Ngữ văn Lớp 8.

BÀI LÀM

     Từ khi có phong trào thơ mới ra đời, ta thấy có Vũ Đình Liên trên các báo. Người cũng ca ngợi tình yêu như hầu hết mọi nhà thơ thời bấy giờ. Nhưng hai nguồn thi cảm hứng chính của người là lòng thương người và tình hoài cổ. Ông đồ là một kiệt tác nghệ thuật thể hiện cảm xúc đó của Vũ Đình Liên.

Loading...

     Vũ Đình Liên(1913 – 1996), là nhà thơ lớp đầu tiên của phong trào thơ mới, ông tham gia phong trào Thơ Mới từ những ngày đầu. Năm 1990, ông được nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý "Nhà giáo nhân dân". 

     Ông đồ là người Nho học nhưng ko đỗ đạt, sống thanh bần bằng nghề dạy học. Người Việt Nam xưa có một nét văn hóa rất đặc trưng:

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ

     Cây nêu, tràng hạt, bánh chưng xanh

    Khi tết đến, người ta sắm một câu đôi chữ nho viết trên giấy đỏ gián lên vách, lên cột vừa để trang hoàng nhà cửa ngày tết vừa gửi gắm lời chúc tốt lành. Chơi câu đối tết ko chỉ là một thú chơi tao nhã  thể hiện những mong ước, khát khao về một cuộc sống tốt lành mà còn là một nét văn hóa của người chơi. Khi đó, ông đồ được thiên hạ tìm đến và ông có dịp trổ tài, đồng thời, có được ít tiền tiêu tết. Ở thành phốthì khi giáp Tết, xuất hiện những ông đồ "bày mực tàu giấy đỏ" bên hè phố, viết chữ nho, câu đối bán. Tuy là viết thuê kiếm tiền nhưng khi đó, chữ của ông còn đang được mọi người trân trọng, thưởng thức nên ông vẫn đang trong thời đắc ý.

Phân tích bài thơ ông đồ của vũ đình liên

     Bài thơ Ông đồđược viết năm 1936, đây là tác phẩm tiêu biểu nhất của Vũ Đình Liên trong phong trào thơ mới. Vào những năm 1935-1936, trên phố hàng Bồ (Hà Nộ) có một ông đồ nghèo ngồi viết chữ thuê. Ông đồ này nghèo tới mức có sẵn giấy để viết chữ, khi nào có khách thì ông mới chạy đi mua giấy để viết chữ. Từ nhân vật này, Vũ Đình Liên đã xây dựng nên hình tượng ông đồ bất hủ trong thơ ca Việt Nam.

 

     Trong bài thơ, tác giả không lí lẽ, bàn bạc về sự hết thời của chữ nho, nhà nho, mà chỉ thể hiện tâm trạng ngậm ngùi, day dứt trước sự tàn tạ rồi vắng bóng của ông đồ, con người một thời đã qua. "Ông đồ chính là cái di tích tiều tụy đáng thương của một tời tàn" như lời tác giả.

     Bài thơ có năm khổ thì bốn khổ có hình ảnh ông đồ ngồi viết câu đối thuê ngày Tết bên hè phố. Giọng thơ hầu như không thay đổi nhưng ở hai khổ đầu và khổ thơ tiếp theo, tuy vẫn hình ảnh đó, lại là hai cảnh tượng tương phản, cho thấy số phận ông dồđã thay đổi hoàn toàn. Khổ hết là sự vắng bóng của ông đồ và câu hỏi bâng khuâng nhớ tiếc của nhà thơ.

     Ở hai khổ thơ đâu, nối bật là hình ảnh ông đồ thời đắc ý:

Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Bày mực tàu giấy đỏ

Bên phố đông người qua

     Mỗi khi tết đến, hoa đào nở, lại thấy ông đồ cùng mực tàu, giấy đỏ bên hè phố đông người qua lại. Sự xuất hiện ấy của ông lặp đi lặp lại từ năm này qua năm khác như một thói quen không thể thiếu, góp mặt vào cái đông vui, náo nhiệt của phố phường. Ông đồ viết chữ, viết câu đối đỏ, tức là cung cấp một thứ hàng mà mỗi gia đình cần sắm cho ngày tết. Vì vậy, cứ vào dịp tết, người ta kéo nhau tìm đến ông đồ, và lúc này ông rất “đắt hàng” – có “bao nhiêu người thuê viết”. Ông trở thành biểu tượng của mùa xuân, của tết đến:

Bao nhiêu người thuê viết

Tấm tắc ngợi khen tài

Hoa tay thảo những nét

Như phượng múa rồng bay

     Ở hai khổ thơ này, hình ảnh ông đồ như hòa vào, góp vào cái rộn ràng, tưng bừng, sắc màu rực rỡ của phố xá đang đón Tết; mực tàu, giấy đỏ của ông hòa với màu đỏ của hoa đào nở; sự có mặt cua rông đã thu hút bao người xúm đến. Người ta không chỉ tìm đến ông vì cần thuê ông viết chữ, mà còn để thưởng thức tài viết chữ đẹp của ông. Mọi người tấm tắc ngợi khen ông tài, khen ông có hoa tay, khen chữ ông như phượng múa rồng bay… Lúc ấy, ông trở thành trung tâm của sự chú ý, là đối tượng của sự ngưỡng mộ của mọi người.

      Ở khổ thơ thứ 3 vẫn nổi bật hình ảnh ông đồ với mực tàu giấy đỏ, nhưng mọi thứ đã khác xưa. Không còn đâu bao nhiêu người thuê viết- Tấm tắc ngợi khen tài mà thay vào đó là cảnh tượng vắng vẻ đến thê lương. Với cảm xúc buồn thương thấp thoáng ở 2 câu thơ trên, giờ đây cái cảm xúc đó được thể hiện trong câu hỏi đầy băn khoăn day dứt:

Nhưng mỗi năm mỗi vắng

Người thuê viết nay đâu?

    Cũng là mỗi năm nhưng lại đứng sau từ nhưng- con chữ thường làm đảo lộn trật tự quen thuộc. Số người còn chút mến yêu và kính trọng chữ nho giờ cũng mỗi năm mỗi vắng, khách quen cũng tan tác mỗi người một ngả. Để rồi 1 chút hy vọng nhỏ nhoi của Ông đồ là góp chút tài nghệ cùng mọi người vào mỗi dịp tết đến xuân về cũng dần tan biến bởi cuộc sống mưu sinh cũng ngày càng khó khăn. Bằng câu hỏi tu từ hết sức độc đáo, Vũ Đình Liên đã thể hiện 1 nỗi nuối tiếc của 1 thời kì vàng son để rồi đọng lại thành nỗi sầu, nỗi tủi thấm sang cả những vật vô tri vô giác:

Giấy đỏ buồn không thắm

Mực đọng trong nghiên sầu

     Giấy đỏ là thứ giấy dùng để ông đồ viết chữ lên, đó là 1 thứ giấy rất mỏng manh chỉ cần 1 chút ẩm ướt cũng có thể phai màu. Vậy mà' Giấy đỏ buồn không thắm'-  không thắm bởi lâu nay không được dùng đến nên phôi pha úa tàn theo năm tháng. Mực cũng vậy- đó là thứ mực đen thẫm để ông đồ viết chữ, trước khi dùng thì ta phải mài mực rồi dùng bút lông họa lên những nét chữ. Nhưng nay' Mực đọng trong nghiên sầu' nghĩa là mực đã được mãi từ lâu, đã sẵn sàng cho bàn tay tài hoa của ông đồ để trổ tài nhưng đã đợi chờ trong vô vọng. Các từ buồn, sầu như thổi hồn vào sự vật cùng với phép nhân hóa đã khiến cho giấy đỏ, mực tàu vốn vo tri bỗng trở nên có hồn có suy nghĩ như con người. Nỗi buồn đó không chỉ thấm vào những đồ dùng mưu sinh hằng ngày mà cảm xúc đó của ông còn lan ra khung cảnh thiên nhiên, cảnh vật khiến không gian trở nên thật đìu hiu, xót xa:

Ông đồ vẫn ngồi đó

Qua đường không ai hay

Lá vàng rơi trên giấy

Ngoài giời mưa bụi bay

     Ông đồ vẫn ngồi ở bên hè phố, nhưng đã ko còn ai chú ý đến ông. Vậy tại sao khi thời cuộc đổi thay đã ko còn ai “thuê viết” nhưng ông đồ “vẫn ngồi đấy”? Ông bị bỏ rơi, cô đơn, lạc lõng nhưng ông vẫn cố bám lấy sự sốt, vẫn muốn có mặt với cuộc đời. Hành động của ông như một sự níu kéo, níu kéo một nét đẹp văn hóa của dân tộc đang bị lãng quên. Tết đến, xuân về, như mọi năm ông đồ vẫn ra phố làm công việc của mình. Nhưng còn đâu một thời “vang bóng”. Giờ đây ông đã bị mọi người lãng quên, trở thành “cái di tích tiều tụy đáng thương của một thời tàn”.

Lá vàng rơi trên giấy

Ngoài giời mưa bụi bay

      Có thể nói, đây là hai câu thơ hay nhất trong bài thơ Ông đồ. Câu thơ mượn cảnh ngụ tình, là miêu tả mà biểu cảm, ngoại cảnh mà kỳ thực là tâm cảnh. Trong cái không khí tết nhất, phố phường tất nập, đông vui, ông đồ ngồi đó mà trong lòng ông là một tấn bi kịch, là sự sụp đổ hoàn toàn. Hình ảnh mưa bụi là một hình ảnh đắt giá. Chẳng phải mưa to gió lớn, chẳng phải mưa rả rích dầm dề mà là cơn mưa lất phất, rất nhẹ nhưng ảm đạm và thê lương. Mưa bụi ở ngoài trời mà cũng chính là mưa trong lòng người, dường như cả trời đất cũng ảm đạm, buỗn bã cùng với ông đồ.

     Có thể thấy, hệ thống các chi tiết làm nền cho bài thơ không ngừng biến hóa. Trước tiên là ở hệ thống sắc màu của giấy đỏ: từ màu sắc thắm tươi (khổ 1) đã không còn thắm nữa (khổ 3) rồi không còn màu, chỉ còn giấy (khổ 4). Cũng như quy luậ nghiệt ngã này trong hệ thống người thuê viết, ta nhận thấy: Sự vồ vập, ngưỡng mộ (khổ 1+ 2) đến chỗ xa lạ (khổ 3) rồi quên lãng (khổ 4). Hệ thống chi tiết này tuy khác nhau nhưng lộ trình của nó hệ như nhau: hợp rồi tan, vui rồi buồn, tốt tươi đến héo tàn, và trước sự tàn lụi của một kiếp người như ông đồ, một tâm hồn thi sĩ nhạy cảm như Vũ Đình Lên không thể không thấy xót xa, thương cảm. Điều đó được thể hiện rõ nhất trong khổ thơ cuối bài.

Năm nay đào lại nở

Không thấy ông đồ xưa

      Kết cấu đầu cuối tương ứng làm nổi bật tứ thơ: "Cảnh đó – người đâu". Năm xưa khi đào nở ta thấy ông đồ ngồi bên lề đường và hòa mình vào sự đông vui náo nhiệt của phố phường. Nhưng nay cùng thời điểm đó thì ông đã không còn nữa, hình ảnh xưa cũ cũng dần tan biến vào dòng thời gian, ông đồ già giờ đây đã thành ông đồ xưa – đã không còn nữa, có thể đã trở thành thiên cổ, lớp người quá vãng. 

 

     Sau mấy cái tết, ông đồ vẫn ngồi đấy mà ko được ai để ý, thì đến năm nay khi hoa đào lại nở, ông đồ đã hoàn toàn vắng bóng. Ông đã bị “xóa sổ” thật rồi. Câu thơ thoáng lên một sự bàng hoàng, thảng thốt, khiến cho nhà thơ tự hỏi:

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?

     Những người muôn năm cũ ở đây là ông đồ và cả một thế hệ Nho học. Câu thơ như một lời tự vấn, bộc lộ nỗi niềm tiếc thương, khắc khoải trước một lớp người tàn; nỗi nhớ da diết trước cảnh cũ người xưa và đặc biệt là sự tiếc nuối về một nền văn hóa cổ truyền đã mất. Câu hỏi tu từ ở cuối bài, không có câu trả lời, gieo vào lòng người đọc những cảm thương tiếc nuối không dứt.

     Bài thơ Ông đồ với bút pháp tương phản đặc sắc, đã nói thêm được niềm cảm thương chân thành của Vũ Đình liên đối với tình cảnh những ông đồ đang tàn tạ trước sự đổi thay của cuộc đời; đồng thời, đó còn là niềm nhớ nhung, luyến tiếc những cảnh cũ người xưa đã vắng bóng. Đặc biệt, nhà thơ còn bộc lộ niềm ngậm ngùi nhớ tiếc về một nét văn hóa, giá trị tinh thần truyền thống. Niềm hoài cổ của Vũ Đình liên có một ý nghĩa nhân văn và thể hiện một tinh thần dân tộc là vì vậy.

>>>XEM THÊM : 

Spread the love
Loading...

Check Also

Cảm nhận của em về bài thơ khi con tu hú của tố hữu

Cảm nhận của em về bài thơ khi con tu hú của tố hữu | Làm văn mẫu

(Văn mẫu lớp 8) – Em hãy nêu cảm nhận về bài thơ Khi con tu hú …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *