Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 10 / Phân tích bài thơ nhàn của nguyễn bỉnh khiêm | Văn Mẫu

Phân tích bài thơ nhàn của nguyễn bỉnh khiêm | Văn Mẫu

(Văn mẫu lớp 10) – Em hãy phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

(Bài làm của học sinh)

Đề bàiPhân tích bài thơ nhàn của nguyễn bỉnh khiêm

BÀI LÀM

       Sống gần trọn thế kỉ XVI (1491 – 1585), Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chứng kiến biết bao điều bất công ngang trái, thối nát của các triều đại phong kiến Việt Nam Lê, Mạc, Trịnh. Xót xa hơn ông thấy sự băng hoại của đạo đức con người:

Loading...

– Còn bạc còn tiền còn đệ tử

Hết cơm hết rượu hết ông tôi

– Thớt có tanh tao ruồi đậu đến

Gang không mật mỡ kiến bò chi

Đời nay những trọng người nhiều của

Bằng đến tay không ai kẻ vì

Khi làm quan ông vạch tội bọn gian thần, dâng sớ xin vua chém mười tám tên lộng thần. Vua không nghe, ông cáo quan về sống tại quê nhà với triết lí: "Nhàn một ngày là tiên một ngày". Đấy chính là  quan niệm sống được thể hiện qua bài thơ Nhàn của ông.

      Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm 1491, mất năm 1585- Quê ở làng Trung An nay thuộc xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo – Hải Phòng. Ông đỗ Trung Nguyên năm 1535  làm quan dưới triều Mạc. Sống thẳng thắn, cương trực. Ông dâng sớ chém 18 tên lộng thần không được nhà vua chấp nhận, ông cáo quan về quê, lập Am Bạch Vân dạy học. Ông được nhà Mạc phong tước Trình Quốc Công. Trong dân dân gọi là Trạng Trình. Nguyễn Bỉnh Khiêm được tôn thờ là một thánh nhân, ông sống gần gũi với nhân dân, đó là một nhân cách lớn, một người thầy uyên thâm, một trạng trình một nhà tiên tri.

Phân tích bài thơ nhàn của nguyễn bỉnh khiêm

      Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Bỉnh Khiêm đồ sộ. Ông để lại 700 bài thơ chữ Hán trong “ Bạch Vân Am thi tập” và 170 bài chữ Nôm trong “Bạch Vân Quốc ngữ thi”. Thơ ông mang đậm chất triết lý giáo huấn, ngợi ca chí của kẻ sĩ, thú thanh nhàn, phê phán thói đen bạc trong xã hội.

       Bài thơ Nhàn được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Hai câu đề tác giả viết:

Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

     Sau thời Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đặt đạo đức tành vấn đề đạo lí, triết lí về đạo đức bằng thước đo của cuộc sống đời thường. Ông tìm về cuộc sống nơi thôn dã với việc "cày nhàn câu vắng", tự mình thích thảng với lòng mình, tạm quên hết sự đời "dầu ai vui thú nào". Đó là cuộc sống lao động như một lão nông tri điền ở nông thôn, một ông Tiều nơi rừng núi với những dụng cụ lao động đào đất, chiếc cuốc, chiếc cần câu cá. Con người chỉ thích có danh vọng đương thời đã tìm thấy niềm vui trong công việc lao động, làm bạn với cuộc sống giản dị nơi thôn dã.

      Điệp từ số “một” cho thấy tất cả đã sẵn sàng đồng thời thấy được nhu cầu của nhà thơ thật giản dị bé nhỏ. Hai câu thơ toát lên sự ung dung thanh thản của con người. Hai chữ “ Thơ thẩn” là trạng thái thảnh thơi, trong lòng không còn gợn chút cơ mưu, tư dục của con người. Nguyễn Bỉnh Khiêm vốn là một quan lớn triều Mạc, được phong tới Trình Quốc Quân, vậy mà bây giờ về ở nơi núi rừng, cày ruộng mà ăn, đào giếng mà uống, câu cả để nhắm rượu, dạy học làm vui. Đó là cuộc sống thuần hậu. Đó là cái vui thú tự nhiên.

     Về nơi núi rừng quê hương là về với thiên nhiên, thuận theo tự nhiên, thoát ra ngoài vòng ganh đua của thói tục… để tâm hồn được thanh thản:

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chỗ lao xao

     Nghệ thuật đối lập : Ta – Người / Dại – khôn; nơi vắng vẻ/ chốn lao xao ( đối ý, đối lời, đối thanh điệu) cùng với cách ngắt nhịp 2 – 5 để diễn tả sự đối lập nhân cách và danh lợi. “Nơi vắng vẻ” là nơi yên tĩnh giữa thiên nhiên trong lành. “Chốn lao xao” là chốn ồn ào, sang trọng, quyền thế, ngựa xe tấp nập, kẻ hầu, người họ, thủ đoạn bon chen…Ở hai câu thơ này, tác giả sử dụng cách nói ngược nghĩa, đùa vui ẩn chứa triết lý nhẹ nhàng mà thấm thía. Dại mà khôn, khôn mà dại. Khôn mà hiểm độc là khôn dại, dại vốn hiền lành ấy dại khôn.

     Đối lập hai cái đấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm muốn đề cao lối sống dân dã, thanh đạm, kiệm cần, đề cao "nơi vắng vẻ", an nhàn. Đó là sự minh triết theo lối ứng xử nhà nho cộng hưởng với quan niệm hòa hợp trong thế giới tự nhiên của tư tưởng Lão – Trang, đồng thời cũng chính là sự lựa chọn của Nguyễn Bỉnh Khiêm với ý nghĩa là sản phẩm kết tụ tinh thần thời đại bấy giờ.

     Ở những câu thơ tiếp theo, nhà thơ tiếp tục phát huy cái nhàn:

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

     Nhàn là “Thu ăn măng trúc… hạ tắm ao”. Đó là cuộc sống đạm bạc, thanh cao với thức ăn dân dã như măng trúc, giá đỗ. Sinh hoạt cũng bình thường, dân dã như mọi người tắm hồ, tắm ao. Có ý kiến cho rằng: Cuộc sống ấy thật khắc khổ, ép xác. Thực ra, đó là một cuộc sống đạm bạc mà không khắc khổ. Đạm bạc mà thanh nhã. Đó là cuộc sống chan hoà với thiên nhiên. Hai câu thơ như vẽ bộ tứ bình bốn mùa xuân – hạ – thu – đông với các cảnh sinh hoạt mùa nào thức ấy, có mùi vị, có sắc hương, nhẹ nhàng trong sáng. Vừa có nước trong vừa có hương thơm thanh quý. So sánh với cuộc sống ở Côn Sơn của Nguyễn Trãi, ta thấy hai nhà thơ lớn ở hai thế kỷ nhưng lại có hoàn cảnh một quãng đời gần nhau và một tấm lòng, một lẽ nhân sinh rất gần nhau. 

      Cuộc sống nhàn còn là cuộc sống không vướng vào vòng danh lợi, phú quý, tự do tận hưởng:

Rượu đến gốc cây, ta sẽ nhắp
Nhìn xem phú quí, tựa chiêm bao

      Tìm đến rượu, uống say, say mà rất tỉnh táo, tỉnh táo nhận ra “phú quý tựa chiêm bao” phú quý chỉ là phù vân chỉ có thiên nhiên và nhân cách con người là tồn tại vĩnh hằng. Cách coi thường phú quý, cách hình dung cuộc đời tựa như giấc chiêm bao chính là một phương diện trong tư tưởng cũng như cuộc đời Nguyễn Bỉnh Khiêm. Xét trong điều kiện và hoàn cảnh xã hội cụ thể, một thái độ sống như thế vẫn có những mặt hợp lí nhất định và đặc biệt có ý nghĩa như một phương thức bảo toàn chí hướng, di dưỡng tính tình và hoàn thiện nhân cách con người cá nhân – kẻ sĩ.

     Với bài thơ Nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm bày tỏ thái độ cự tuyệt đời sống thị thành, chối bỏ mọi sự nhập cuộc, phê phán mọi  biểu hiện có tính xu thế của xã hội mà ông lược quy vào cái gọi là "dầu ai vui thú nào", khinh mạn lối sống giàu sang, công danh của "Chốn lao xao", "phú quý"; tự mình rút lui và bằng lòng với giá trị thanh cao tưởng tượng, một sự thanh cao "không làm gì cả", an trú trong sự nhàn nhã "Một mai, một cuốc…", "thơ thẩn"… Nhàn ở đây không phải đơn thuần do hoàn cảnh ngẫu nhiên đem đến. Với Nguyễn Bỉnh Khiêm ông chủ động chọn lối sống nhàn. Sự chủ động ấy trong cuộc đời biểu hiện ở việc xin từ quan khi dâng sớ chém lộng thần khong có kết quả. Dấu ấn của sự chủ động thể hiện ở việc dứt khoát chọn cho mình một cách sống riêng: “Thơ thẩn.. vui thú nào”. Sự lựa chọn cũng dứt khoát : “ta dại… lao xao”. Chủ động trong thế “ Rượu… chiêm bao”. Nhàn không chỉ là tâm thế sống, niềm vui sống mà còn là một quan niệm sống, một triết lí sống.

     Nhàn là dấu ấn tinh thần con người cá nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm trước một thời đại mất phương hướng, chao đảo, loạn lạc, nhiều đổi thay. Bằng gịong thơ nhẹ nhàng, hóm hỉnh; cách nói ẩn ý, nghĩa ngược, vẻ đẹp mộc mạc, tự nhiên mà ý vị của ngôn từ, bài thơ đã thể hiện vẻ đẹp cuộc sống, tâm hồn , cốt cách trong sạch của bậc nho sĩ qua đó tỏ thái độ ung dung, bình thản với lối sống “ an bần lạc đạo” theo quan niệm của đạo nho.

>>> XEM THÊM : 

Spread the love
Loading...

Check Also

đóng vai an dương vương kể lại chuyện an dương vương mị châu trọng thủy

Đóng vai An Dương Vương kể lại chuyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy

(Văn mẫu lớp 10) – Em hãy đóng vai An Dương Vương kể lại chuyện An …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *