Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 10 / Phân tích bài thơ lầu hoàng hạc của thôi hiệu | Văn Mẫu

Phân tích bài thơ lầu hoàng hạc của thôi hiệu | Văn Mẫu

(Văn mẫu lớp 10) – Em hãy phân tích bài thơ Lầu Hoàng Hạc của Thôi Hiệu

(Bài làm của học sinh Hương Thu)

Đề bàiPhân tích bài thơ lầu hoàng hạc của thôi hiệu

BÀI LÀM

      Trong thơ ca cổ Trung Hoa, nhiều bài thơ đề vịnh đã lưu danh thiên cổ cùng với những danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử, trong đó, Lầu Hoàng Hạc của nhà thơ Thôi Hiệu thời Đường chiếm một vị trí nổi bật. Nghiêm Vũ thời Tống đánh giá đó là bài thơ thất ngôn Đường luật hay nhất thời Đường. 

Loading...

      Thôi Hiệu (704-754) – Nhà thơ Đường nổi tiếng, cùng thời với Lí Bạch. Thôi Hiệu thường du lịch nhiều nơi. Một ngày nọ đặt chân tới góc thành Tây Nam tỉnh Hồ Bắc, ông thả bộ lên lầu Hoàng Hạc tức cảnh sinh tình, Thôi Hiệu đã sáng tác bài thơ Hoàng Hạc Lâu. Về lầu Hoàng Hạc, người xưa kể rằng Phí Văn Vi luyện thành tiên thường cưỡi hạc bay về đậu ở cái lầu của tỉnh Hồ Bắc. Về sau ông cưỡi Hạc vàng bay đi đâu mất để lại trơ trọi cái lầu và lầu trở thành lầu Hoàng Hạc là vì thế.

      Hai câu đầu bài thơ tường thuật sự tích liên quan đến tên lầu:

Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi,
Nơi đây chỉ còn lại lầu Hoàng Hạc.

      Đây là lối phá đề mới mẻ, lấy diễn đạt ý làm chính, không theo khuôn sáo thơ đề vịn danh thắng thường bắt đầu bằng việc miêu tả những cảnh lên cao nhìn thấy. Nhà thơ đã sử dụng những thi liệu của truyền thuyết về việc cưỡi hạc bay lên trời. Tác giả đã khéo léo sử dụng những chất liệu này để biểu hiện một cách sinh động trạng thái tình cảm xốn xang, cảm thụ chân thành, suy tư sâu lắng của những con người đương thời thường có khi bước lên một cao điểm như lầu Hoàng Hạc: thời gian một đi không trở lại, người xưa đã qua không thể thấy, đời người là hữu hạn, vũ trụ là vô cùng. 

       Hai câu tiếp theo lại một lần nữa diễn tả tâm trạng chua xót đến khôn nguôi:

Hạc vàng một khi bay đi đã không trở lại,
Mây trắng ngàn năm vẫn phiêu diêu trên không.

      “Hạc vàng” với “mây trắng”, quá khứ với hiện tại, cái mất đi từ nghìn xưa với cái hữu hình “còn bay”… hô ứng nhau, đối ứng nhau, tạo nên những vần thơ đẹp vô cùng gợi cảm. Trong phần "đề” và “thực” của bài thơ, ba từ “Hoàng hạc ”ba lần xuất hiện trên cái nền “mây trắng ngàn năm bay chơi vơi ” (câu thơ dịch của Khương Hữu Dụng); màu sắc hài hòa tuyệt đẹp làm gợi lên một cảnh quan mỹ lệ nên thơ. Đặc biệt câu thơ thứ 4 “Hoànghạc nhất khứ hất phục phản” gồm 6 thanh trắc xuất hiện liên tiếp, luật bằng trắc của thơ Đường bị phá cách. Âm hưởng câu thơ như bị “thắt ” lại nhằm biểu hiện cái cảm giác ngẩn ngơ, bâng khuâng, tiếc nuối của du khách khi ngắm lầu vàng. Ngòi bút của Thôi Hiệu rất điêu luyện trong phối thanh hòa sắc để tạo nên những vần thơ đẹp “thi trung hữu họa, thi trung hữu cầm ” cho ta nhiều rung cảm.

       Ngắm trời xanh, mây trắng, lầu vàng, mỗi bước chân của thi nhân như dẫn hồn mình phiêu du vào thế giới thần tiên, mộng ảo. Rồi nhà thơ bâng khuâng đưa mắt ra bốn phía, ra chân trời xa:

Mặt sông lúc trời tạnh, phản chiếu cây cối Hán Dương rõ mồn một,
Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ mơn mởn xanh tươi.

      Mặt sông lúc trời tạnh, sáng trong như tấm gương phản chiếu cây cối vùng Hán Dương rõ mồn một, cỏ thơm trên bãi Anh Vũ mơn mởn xanh tươi. Cảnh vật sông nước, cỏ cây như chan chứa xuân sắc, xuân tình. Hai câu luận được cấu trúc đăng đối hài hòa, cặp từ láy "lịch lịch – thê thê ” là hai nét vẽ tinh tế khắc họa cái "hồn ” của cảnh trí non sông. Ngòi bút của Thôi Hiệu đã làm sống dậy cỏ cây thiên nhiên bằng đường nét và gam màu tươi sáng nhiều ấn tượng.

       Đến đây, người đọc có thể nhận thấy, viết về Lầu Hoàng Hạc mà Thôi Hiệu không tả cụ thể ngồi lầu ra sao, chủ yếu tả khung cảnh xung quanh, đám mây trắng, bãi cỏ, Anh Vũ, hàng cây Hán Dương, dòng Trường Giang. Đó là nét riêng và dụng ý của tác giả. Qua đây, có sự đối lập giữa xưa và nay, giữa cảnh thực và cảnh ảo. Từ lầu Hoàng Hạc, từ cảnh ảo, khác tha hương nhìn về cố hương những mong tìm thấy nguồn động viên, an ủi nhưng nào thấy, chỉ thấy cỏ cây, sông bãi,… Bởi vậy, tận đáy sâu của cảnh vẫn là tình, đó là nỗi buồn xa xứ khôn nguôn. Cảnh đẹp nhưng lòng buồn vô hạn.

Phân tích bài thơ lầu hoàng hạc của thôi hiệu

       Nỗi buồn xa xứ ấy được diễn tả đặc sắc ở 2 câu thơ cuối:

Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu?
Trên sông khói toả, sóng gợn, khiến người sinh buồn!

       Đến đây, tình đã được nhà thơ bộc lộ trực tiếp chứ không gián tiếp qua việc miêu tả cảnh như ở trên nữa. Câu hỏi tu từ "tự hỏi quê nhà nơi đâu?" như khắc vào lòng nhà thơ nỗi nhớ quê da diết. Đặc biệt hơn, trong hoàn cảnh sông nước khói sóng mênh mông, con người lại càng thấy cô đơn, lẻ bóng, càng khao khát được trở về quê hương xứ sở của mình. Vậy mà tất cả chỉ là nỗi nhớ, chỉ là hoài niệm mà thôi. 

      Cả bài thơ chữ nào, câu nào cũng bâng khuâng man mác một niềm buồn thương, nhung nhớ. Nhớ người xưa đi mất hút không bao giờ trở về, đám mây trắng chơi vơi. Ngọn khói sóng buổi chiều trên dòng sông khêu gợi nỗi sầu nhớ quê hương. Bài thơ đi vào lòng người đọc bởi những suy ngẫm, triết lí và bởi tình cảm cao đẹp dành cho quê hương, đất nước.

>>> XEM THÊM : 

Spread the love
Loading...

Check Also

đóng vai an dương vương kể lại chuyện an dương vương mị châu trọng thủy

Đóng vai An Dương Vương kể lại chuyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy

(Văn mẫu lớp 10) – Em hãy đóng vai An Dương Vương kể lại chuyện An …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *