Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 11 / Phân Tích Bài Thơ Chạy Giặc Của Nguyễn Đình Chiểu | Văn Mẫu 11

Phân Tích Bài Thơ Chạy Giặc Của Nguyễn Đình Chiểu | Văn Mẫu 11

(Văn mẫu lớp 11) – Em hãy phân tích bài thơ Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu(Bài làm của học sinh Lương Bích Thủy)

Đề bàiPhân Tích Bài Thơ Chạy Giặc Của Nguyễn Đình Chiểu.

BÀI LÀM

     Nguyễn Đình Chiểu chính là một ngôi sao lớn của dân tộc nhưng “con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy”, đúng như lời nhận xét của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng. Với bài thơ Chạy giặc, một lần nữa, chúng ta lại thấy rõ thơ văn Nguyễn Đình Chiểu gắn bó chặt chẽ với thời đại bão táp của dân tộc và ông trở thành lá cờ đầu của thơ ca yêu nước chống ngoại xâm trong văn học nửa sau thế kỉ XIX. Bị mù lòa, không trực tiếp cầm súng đánh giặc, ông đã dùng ngòi bút làm vũ khí giết giặc vô cùng lời hại.

      Bài thơ Chạy giặc (có sách ghi là Chạy Tây) là một trong số những bài thơ Nôm xuất sắc của Nguyễn Đình Chiểu, là một trong những tác phẩm đầu tiên của văn học yêu nước chống Pháp xâm lược cuối thế kỉ XIX. Bài thơ được làm theo thể thơ Đường luật thất ngôn bát cú. Bài thơ miêu tả tình cảnh của nhân dân, đất nước trong khi chạy giặc. Đồng thời thể hiện thái độ, tình cảm của tác giả.

      Hai câu đề thể hiện tình thế hiểm nghèo của đất nước:

Loading...

Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây
Một bàn cờ thế phút sa tay

     Các hình ảnh, từ ngữ ở hai câu đề tập trung làm nổi bật hai ý: họa xâm lăng bất ngờ và sự thất bại nhanh chóng của quan quân triều Nguyễn. 

     Chợ là nơi họp mặt, nơi giao lưu về kinh tế và văn hoá của nhân dân; đây là hình ảnh biểu tượng của quê hương, đất nước. Thế mà vào các khoảnh khắc vừa “tan chợ”, tai họa liền giáng xuống: tiếng súng quân thù rộ lên! Thật là bất ngờ. Những gì xảy ra sau đó thật là khủng khiếp.

     “Một bàn cờ thế” là ván cờ tướng mà mỗi bên còn ít quân. Một bên đang lâm vào tình cảnh bí. Cần phải suy tính nước đi thật giỏi để gỡ thế bí. Nếu tính toán sai, đi sai một nước là thua. Đau đớn thay, tình thế hiểm nghèo vô phương cứu chữa trên bàn cờ chính trị lúc đó lại rơi vào phía nước ta. Cái “phút sa tay” – tính toán sai đã kéo theo hàng loạt thất bại: Gia Định nhanh chóng thất thủ, ba tỉnh miền Đông Nam Kì rơi vào tay giặc; với Hòa ước năm 1862, triều đình nhà Nguyễn bắt đầu cắt đất dâng cho địch.  Hai câu thơ mang đến nhận thức rằng đất nước ta đã rơi vào tay giặc. Thực dân Pháp từng bước tấn công vào ba tỉnh miền đông và 3 tỉnh miền Tây Nam Bộ.

      Hai câu đề như một thông báo, đất nước đã rơi vào thảm họa của giặc ngoại xâm. Cách thể hiện bằng hình ảnh, bằng ngôn ngữ như chỉ mặt, đặt tên kẻ thù để mọi người cùng thấy. Đằng sau những hình ảnh, câu chữ ấy hẳn là  nỗi xót xa của người viết.

     Vì thế cờ nghiêng về tay giặc, cho nên, ở những câu thơ tiếp theo, nhà thơ miêu tả chân thực cảnh chạy giặc của nhân dân ta:

Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Mất ổ bầy chim dáo dác bay

     Giặc đến, mọi người đều hoảng sợ, mọi vật đều hoang mang và tan tác. Nguyễn Đình Chiểu không vẽ toàn bộ bức tranh đau thương ấy mà dùng vài nét phác họa bằng hình ảnh chọn lọc “Lũ trẻ, bầy chim”. Trẻ con đáng lẽ phải được sống trong yên bình, yêu thương vì chúng nào có tội. Bầy chim ngoài việc cất tiếng hát líu lo cho đời thì chúng có biết đến chiến tranh là gì. Vậy mà hai thứ đáng yêu nhất lại chịu những nỗi đau lẽ ra không thuộc về chúng. Cuộc chiến tranh nào cũng vậy, vì lợi ích của những người cầm quyền mà bao nhiêu máu của người vô tội đổ xuống. Biện pháp đảo ngữ “bỏ nhà lũ trẻ,mất ổ bầy chim” kết hợp với các từ láy “lơ xơ, dáo dác” nhấn mạnh khung cảnh chia lìa, hốt hoảng, ngơ ngác khi giặc đến bất ngờ.
Cảnh tan đàn, sẻ nghé. Con người bơ vơ bỏ nhà chạy giặc không định hướng, không ai dắt dẫn, biết về đâu. Mượn hình ảnh bầy chim mất ổ dáo dác bay để diễn tả cảnh hốt hoảng, ngơ ngác, tan tác của con người khi giặc đến.

     Nỗi đau thương, mất mát của nhân dân được đẩy lên cực điểm ở hai câu luận:

Bến Nghé của tiền tan bọt nước
Ðồng Nai tranh ngói nhuộm mầu mây

     Bến Nghé, Đồng Nai những địa danh vừa cụ thể, vừa mang tính khái quát chỉ vùng đất Nam Bộ, bị giặc đốt, phá phách, cướp bóc. Đây vốn dĩ là nhhững địa danh thân thương của quê hương miền Đông Nam Bộ, những miền đất trù phú, cuộc sống cư dân ở đó sầm uất vào bậc nhất, có tiếng khắp vùng. Nhưng với nhà thơ mù, đó còn là nơi quân giặc bắt đầu gây hấn: chúng tràn tới sông Bến Nghé hạ đồn Gia Định rồi từ đó đánh loang ra các tỉnh miền đông và miền tây Nam Bộ; chúng đi đến đâu là cướp bóc, đốt phá đến đó; nhà cửa bị thiêu hủy, khói lửa “nhuốm màu mây”; của cải phút chốc mất sách, “tan bọt nước”.

    Tất cả đều tan tác, tro bay. Giặc đi đến đâu là cướp, phá, đốt nhà cửa, giết hại sinh linh đến đó. Câu thơ được viết ra bằng nỗi xót xa trước tình cảnh của người dân vô tội, bằng sự căm thù chứa trong tâm can. Những câu thơ như góp lửa cho lòng căm thù quân cướp nước, để bốc cao thiêu cháy quân xâm lược và lũ đê hèn đầu hàng nhục nhã. Tuy không có điều kiện để đứng vào đội ngũ chiến đấu, Thầy Đồ Chiểu đã dùng ngòi bút của mình để kể tội quân cướp nước và xót xa trước tình cảnh của nhân dân. Thơ văn của ông mang tính chiến đấu.

phan tich bai tho chay giac
Phân Tích Bài Thơ Chạy Giặc Của Nguyễn Đình Chiểu | Văn Mẫu 11

     Trước cảnh tình đất nước như vậy, lời thơ trở nên xót xa, phẫn uất:

Hỏi trang dẹp loạn này đâu vắng?
Nỡ để dân đen mắc nạn này!

     Nguyễn Đình Chiểu đặt ra câu hỏi, không phải hỏi chung chung mà hỏi rất cụ thể. “Trang” chỉ người đáng kính trọng. “Trang dẹp loạn” là hỏi người có chức trách trước tình cảnh của đất nước của nhân dân. Nhà thơ đề cao họ trong mấy từ này. Song câu kết bài “Nỡ để dân đen mắc nạn này” lại hạ thấp họ. Mũ áo xênh xang, tài thao lược để đâu. Sự thờ ơ vô trách nhiệm của triều đình nhà Nguyễn, của vua, quan chức sức của tư tưởng bạc nhược, của hành động hèn nhát có thấy gì không? Một câu hỏi như một cái tát vào mặt những con người ấy.

    Rõ ràng là hình thức câu hỏi nhưng bản thân nó đã hàm chứa câu trả lời – một sự khẳng định thái độ hèn nhát và bất lực của triều đình đã đẩy nhân dân vào cảnh “chạy giặc” khốn khổ như ông miêu tả ở trên. Sự khẳng định tình thế lịch sử, sự thật lịch sử với nỗi đắng cay, xót xa, oán hờn góp phần tăng sức biểu cảm của lời thơ.

     Chạy giặc là một bài thơ nôm bình dị, ghi lại cảm xúc của tác giả vào thời khắc đau thương của dân tộc: nỗi đau mất nước, nỗi oán hận triều đình, nỗi xót xa cho dân lành “mắc nạn”. Bài thơ vừa có giá trị chân thực vừa giàu sức biểu cảm. Bài thơ vừa tả thực, vừa khái quát để vừa kể tội quân giặc, vừa xót xa trước tình cảnh nhân dân. Giá trị hiện thực của bài thơ góp phần làm nên tính chiến đấu mạnh mẽ của thơ văn thầy Đồ Chiểu.

Spread the love
Loading...

Check Also

suy nghĩ về ý kiến thơ trước hết là cuộc đời sau đó mới là nghệ thuật

Suy nghĩ về ý kiến Thơ trước hết là cuộc đời sau đó mới là nghệ thuật | Văn mẫu

(Văn mẫu lớp 11) – Em hãy nêu suy nghĩ về ý kiến của nhà thơ, …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *