Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 11 / Phân tích bài thơ câu cá mùa thu của nguyễn khuyến | Văn mẫu

Phân tích bài thơ câu cá mùa thu của nguyễn khuyến | Văn mẫu

(Văn mẫu lớp 11) – Em hãy phân tích bài thơ Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến

(Bài làm của học sinh trường THCS Kim Liên) 

Đề bàiPhân tích bài thơ câu cá mùa thu của nguyễn khuyến

BÀI LÀM

     Nguyễn Khuyến nổi tiếng nhất trong văn học Việt Nam là về thơ Nôm. Mà trong thơ Nôm Nguyễn Khuyễn nức danh nhất là chùm 3 bài thơ thu: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh – điển hình cho mùa thu ở Việt Nam. Nhưng tiêu biểu hơn cả là Thu điếu (mùa thu câu cá).Làng cảnh nước ta lúc đất trời vào thu đẹp một vẻ đẹp thanh sơ, bình dị mà thật nên thơ, nhưng không mấy ai đưa được vẻ đẹp ấy vào thơ một cách thân tình như Nguyễn Khuyến. 

Loading...

     Nguyễn Khuyễn sinh 1835 mất 1909. Lúc nhỏ tên là Thắng, học giỏi, thông minh. Quê hương Nguyễn Khuyến thuộc tỉnh Hà Nam sinh ra ở quê ngoại: Hoàng Xá nay là xã Yên Trung, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Lớn lên, Nguyễn Khuyến về quê nội: Làng Và (Vị Hạ), xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Gia đình Nguyễn Khuyến có truyền thống nho học. Nhưng đến đời cụ thân sinh ra Nguyễn Khuyến không đỗ đạt chỉ ở nhà dạy học. Nguyễn Khuyến đỗ đầu cả ba kì thi: Hương, Hội, Đình. Người ta gọi cụ là Tam Nguyên Yên Đổ. Ông làm quan 14 năm. Năm 1884, Nguyễn Khuyến cáo quan về làng, dạy học sống thanh bạch. Nguyễn Khuyến là người có tài năng, cốt cách thanh cao, chia sẻ đồng cảm với người dân ở quê hương ông và tấm lòng yêu nước thầm kín, kiên quyết không hợp tác với chính quyền thực dân Pháp. Sáng tác của Nguyễn Khuyến gồm cả chữ Hán và chữ Nôm, số lượng lớn. Hiện còn 800 bài gồm thơ, văn, câu đối nhưng chủ yếu là thơ. Thơ Nguyễn Khuyến thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, gia đình, bè bạn, phản ánh cuộc sống thuần hậu, chất phác, nghèo khổ của nhân dân. Đồng thời tỏ thái độ châm biếm đả kích tầng lớp thống trị, bọn thực dân và tay sai phong kiến. Đóng góp nổi bật nhất của Nguyễn Khuyến đối với nền văn học dân tộc là mảng thơ viết về làng quê, thơ trào phúng và ngôn ngữ thơ Nôm.

     Thu điếu nằm trong chùm thơ thu (3 bài). Cả ba bài đều có chung một đề tài về mùa thu (Thu Vịnh, Thu điếu, Thu ẩm). Câu cá mùa thu hòa hợp giữa cảnh thiên nhiên thanh sơ của nông thôn êm đềm, vắng lặng vào tiết thu với tâm trạng thời thế kín đáo của thi sĩ. 

      Viết về mùa thu là đề tài quen thuộc của thi ca phương Đông. Nhà thơ Đỗ Phủ đời Đường (Trung Quốc) có tới tám bài. Viết về mùa thu, mỗi thi nhân đều có cách riêng của mình. Với Nguyễn Khuyến, làng cảnh Việt Nam nhất là đồng bằng Bắc bộ hiện lên trong chùm thơ thu rất rõ. Tiêu biểu nhất là trong Thu điếu.

      Bài thơ được làm theo thể thơ Nôm Đường luật (thất ngôn bát cú). Hai câu đầu: giới thiệu cảnh câu cá mùa thu, bốn câu tiếp: Cảnh thu ở nông thôn đồng bằng Bắc bộ, hai câu cuối là tâm sự tác giả.

     Bài thơ mở ra thời gian và không gian nghệ thuật đầy thi vị, đầy ắp không khí làng cảnh vùng đồng bằng Bắc Bộ:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo 
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo 

      Điểm nhìn của nhà thơ từ gần đến cao xa rồi từ cao xa trở lại gần. Từ chiếc thuyền câu trên ao thu lạnh lẽo mà nhìn ra, nhìn lên.  Đặc điểm của vùng quê Bình Lục – Hà Nam, vùng đồng chiêm trũng nên lắm ao. Nhiều ao, thuyền câu trở nên bé nhỏ. Điểm nhìn cảnh thu của tác giả thật độc đáo: khác với Thu vịnh, cảnh thu được đón nhận từ cao xa tới gần, lại từ gần đến cao xa, còn Thu điếu thì ngược lại. Từ một khung ao hẹp, cảnh thu được mở ra theo nhiều hướng sinh động. Thời gian không phải là một ngày một buổi mà cả một mùa thu. Từ điểm nhìn ấy, nhà thơ quan sát và ghi lại: Cảnh thu độc đáo, rất riêng. Cảnh điển hình hơn cả cho mùa thu làng cảnh Việt Nam. Nguyễn Khuyến đã chọn những hình ảnh rất tiêu biểu cho mùa thu xứ Bắc ( Ao thu, gió thu, trời thu) để rồi quan sát cận cảnh với những sóng biếc gợn rất nhẹ, một chiếc lá vàng rụng theo gió khẽ khàng:

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí 
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo 

     Màu “biếc” của sóng hoà hợp với sắc “vàng” của lá vẽ nên bức tranh quê đơn sơ mà lộng lẫy. Nghệ thuật đối trong phần thực rất điêu luyện: “lá vàng” với “sóng biếc”, tốc độ “vèo” của lá bay tương ứng với mức độ “tí” của gợn sóng. Nhà thơ Tản Đà đã hết lời ngợi ca chữ “vèo” trong thơ của Nguyễn Khuyến. Ông đã nói một đời thơ của mình may ra mới có được câu thơ vừa ý trong bài “Cảm thu, tiễn thu”: “vèo trông lá rụng đầy sân”.

     Hai câu luận mở rộng không gian miêu tả. Bức tranh thu có thêm chiều cao của bầu trời “xanh ngắt” với “những tầng mây lơ lửng” trôi theo chiều giớ nhẹ. Trong chùm thơ thu, Nguyễn Khuyến nhận diện sắc trời thu là “xanh ngắt”:

“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao” (Thu vịnh)

“Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt” (Thu ẩm)

“Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” (Thu điếu)

     “Xanh ngắt” là xanh mà có chiều sâu. Trời thu không mây (xám) mà xanh ngắt, thăm thẳm. Xanh ngắt đã gợi ra cái sâu, cái lắng của không gian, cái nhìn vời vợi của nhà thơ, của ông lão đang câu cá. Thế rồi ông lơ đãng đưa mắt nhìn về bốn phía làng quê. Hình như bà con dân làng đã ra đồng hết. Xóm thôn vắng lặng. Mọi con đường quanh co, hun hút, không một bóng người qua lại:

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

      Cảnh đơn sơ, thanh nhẹ chỉ được phác vẽ bằng vài nét chấm phá như trong tranh thuỷ mặc: ao thu nước cả và thuyền câu bé tẻo teo, sóng gợn tí lá rụng vèo, mây lơ lửng giữa bầu trời xanh ngắt; ngõ trúc quanh co không bóng người. Hình ảnh thơ bình dị, thân thuộc, không chỉ thể hiện cái hồn của cảnh thu mà còn thể hiện cái hồn của cuộc sống ở nông thôn xưa. "Cái thú vị của bài Thu điếu ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh trúc, xanh trời, xanh bèo" ( Xuân Diệu). 

Tựa gối ôm cần lâu chẳng được 
Cá đâu đớp động dưới chân bèo

Phân tích bài thơ câu cá mùa thu của nguyễn khuyến

      Câu 7 tả tư thế người ngồi câu kiên nhẫn, gò bó, hình như ông đang lắng nghe tiếng cá đớp mồi dưới chân bèo.  Tiếng cá hình như có thật nhưng cũng rất mơ hồ, khe khẽ không xác định. Dù hiểu thế nào chăng nữa thì người câu rõ ràng chẳng để ý đến chuyện câu cá, được cá hay không mà đang câu lòng, câu người, đắm chìm trong suy tư, trong tâm trạng. Tâm sự của một nhà nho lánh đời thoát tục song vẫn không nguôi nghĩ về đất nước nhân dân, về sự bế tắc, bất lực của bản thân? Nhàn thân song không nhàn tâm, Nguyễn Khuyến không thể ung dung đi câu như một ẩn sĩ thực thụ. Nỗi buồn ấy của Nguyễn Khuyến là đáng quý. Nó giúp ông giữ được nhân cách trụ được đến ngày nay. Nỗi buồn ấy đáng để chúng ta ngả mũ nghiêng mình. Ta mới hiểu vì sao trong bài Di chúc có đoạn ông dặn các con mình:

Việc tống táng lăng nhăng qua quýt

Cúng cho thầy một ít rượu be

Đề vào mấy chữ trong bia

Rằng: quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu

     Thế là tình thu ở đây không chỉ là tình cảm với mùa thu mà còn là tấm lòng gắn bó tha thiết với thiên nhiên quê hương, một tấm lòng yêu nước, yêu dân thầm kín nhưng không kém phần sâu sắc. 

     Bài thơ là bức tranh thu mang vẻ đẹp điển hình cho mùa thu, làng cảnh Việt Nam; cảnh đẹp song buồn, vừa phản ánh tình yêu đất nước vừa cho thấy tâm sự thời thế của tác giả. Thơ thu của Nguyễn vừa có những mặt giống với cách viết về mùa thu trong văn học cổ nhưng có những mặt rất mới : đó là những nét vẽ thực hơn, từ ngữ, hình ảnh đậm hồn dân tộc.

>>>XEM THÊM

Spread the love
Loading...

Check Also

suy nghĩ về ý kiến thơ trước hết là cuộc đời sau đó mới là nghệ thuật

Suy nghĩ về ý kiến Thơ trước hết là cuộc đời sau đó mới là nghệ thuật | Văn mẫu

(Văn mẫu lớp 11) – Em hãy nêu suy nghĩ về ý kiến của nhà thơ, …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *