Home / VĂN MẪU THCS / Văn mẫu lớp 9 / Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt | Văn Mẫu Lớp 9

Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt | Văn Mẫu Lớp 9

(Văn mẫu lớp 9) – Em hãy phân tích bài thơ Bếp lửa của nhà thơ Bằng Việt (Bài làm của học sinh Diệu Linh)

Đề bàiBài Văn Phân Tích Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt.

BÀI LÀM

      Trong cuộc đời mỗi con người, kỉ niệm tuổi thơ bao giờ cũng đẹp đẽ thân thương và chứa chan tình nghĩa. Bởi những kỉ niệm ấy thường gắn bó với những người ruột thịt, gần gũi; mẹ ta, bà ta, cha ông ta, các anh chị em, bạn bè .. Nếu như nhà thơ Xuân Quỳnh với bài thơ Tiếng gà trưa đã thể hiện được tình cảm của người lính trẻ trên nẻo đường hành quân, nghe tiếng gà gáy trưa lại chợt nhớ tới bà mình khum khum soi trứng và mắng yêu cháu đừng nhìn gà đẻ mà lang mặt thì nhà thơ Bằng Việt từ xứ sở Liên Xô xa xôi lại nhớ về bà mình với kỉ niệm đầm ấm bên bếp lửa. 

phân tích bài thơ Bếp lửa

     Bằng Việt thuộc thế hệ nhà thơ trương thành trong kháng chiến chống Mĩ. Bài thơ “ Bếp lưả” được ông sáng tác năm 1963 lúc 19 tuổi và đang đi du học ở Liên Xô. Bài thơ đã gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu, trân trọng và biết ơn của người cháu với bà, với gia đình, quê hương, đất nước.

Loading...

     Tình cảm và những kỉ niệm về bà được khơi gợi từ hình ảnh bếp lửa. Ở nơi đất khách quê người, bắt gặp hình ảnh bếp lửa, tác giả chợt nhớ về người bà:

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.

     Trong khổ thơ đầu, hình ảnh bếp lửa được nhà thơ nhắc tới. Hình ảnh này đã khơi nguồn cho dòng hồi tưởng cảm xúc về bà. Một bếp lửa chờn vờn, ấp iu nồng đượm, nghệ thuật miêu tả, từ láy gợi hình ảnh bếp lưả trong nỗi nhớ và tình thương bà tha thiết. Trong hồi tưởng của người cháu, kỉ niệm tuổi thơ  bên bà và tình bà cháu lần lượt được hiện ra. Dù đã cách xa nữa vòng trái đất nhưng dường như Bằng Việt vẫn cảm nhận được sự vỗ về, yêu thương, chăm chút từ đôi tay kiên nhẫn và khéo léo của bà. Trong cái khoảnh khắc ấy, trong lòng nhà thơ lại trào dâng một tình yêu thương bà vô hạn. Tình cảm bà cháu thiêng liêng ấy cứ như một dòng sông với con thuyền nhỏ chở đầy ắp những kỉ niệm mà suốt cuộc đời này chắc người cháu không bao giờ quên được và cung chính tu đó, sức ấm và ánh sáng của tình bà cháu cũng như của bếp lửa lan toả toàn bài thơ. Bằng hình ảnh ẩn dụ, “ nắng, mưa” không phải là chỉ đơn thuần nói đến thời tiết mà nói thời gian kéo dài cùng với nỗi lo toan, nhọc nhằn, vất vả lận đận, cơ cực suốt cuộc đời bà
      Khổ thơ tiếp theo là dòng hồi tưởng cùa tác giả về những kỉ niệm của những năm tháng sống bên cạnh bà:

Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi,
Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy,
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!

     Từ hình ảnh bếp lửa, nhà thơ nhớ về những gian gian khổ của hai bà cháu. Nhớ về bà, Bằng Việt nhớ mùi khói, nhớ những năm đói mòn đói mỏi, nhớ bố đi đánh xe… Hình ảnh khói bếp trong mỗi ngôi nhà có thể là dấu hiệu của cuộc sống ấm no cũng là dấu hiệu của cuộc sống nghèo khó lầm than. Ấn tượng sâu đậm nhất trong kí ức nhà thơ lúc 4 tuổi là mùi khói. Đó là những năm tháng chiến tranh đói khổ, khi mà bố thường xuyên xa nhà, chỉ có bà làm bầu bạn. Bằng hình ảnh chân thực, nhà thơ đã nói lên được cuộc sống khó khăn, gian khổ, đói nghèo, cơ cực không chỉ của riêng mình mà của cả đất nước trong những năm chiến tranh đau thương. Cái đói ám ảnh trong văn chương một thời, đói đến nỗi phải ăn cả đất sét trong văn Nam Cao, ăn cám (Kim Lân). Nhà thơ Chế Lan Viên đã tổng kết bằng câu thơ đau đớn, xót xa đến nghẹn nghào: “ Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ”. 

     Trong dòng hồi tưởng về tuổi thơ hình ảnh luôn ám ảnh tâm trí tác giả đó là hình ảnh khói hun nhèm mắt: Khói nhiều, cay, khét vì  củi ướt, vì sương vì lạnh. Nhớ lại điều này, khiến tác giả bồi hồi, xúc động, ngậm ngùi "sống mũi còn cay". Năm nhà thơ lên 4 tuổi là khoảng cuối 44 đầu 45 (Năm Ất Dậu). Nạn đói kinh khủng đã xảy ra làm trên 2 triệu đồng bào ta chết đói … Nghĩ lại đó là năm 1963. Vậy 22 năm trời qua mà đưa cháu vẫn cảm thấy sống mũi còn cay, vì khói? vì khó nhọc? hay vì những tình cảm của một thời xa xưa? “kỉ niệm buồn, vết thương lòng khó quên là vậy. Là mùi khói làm cay mắt người người cháu hay chính là tấm lòng của người bà làm đứa cháu không cầm được nước mắt?

 Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm bếp
Tu hú kêu trên những cách đồng xa
Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!

     Trong “Tám năm ròng …” ứng với chiều dài của cuộc kháng chiến chống Pháp của đất nước ta, cùng với với hình ảnh mùi khói, còn đồng hiện hình ảnh tiếng chim tu hú kêu trong tâm tưởng của nhà thơ. Tu hú là loài chim không tự làm tổ được nó thường sống lẻ loi, nay đây mai đó. Đây là âm thanh quen thuộc của đồng quê mới mùa gặt. Tiếng chim như giục giã thúc giục  khặc khoải một điều da diết lắm  khiến lòng người trỗi dậy những hoài niệm nhớ mong. Tiếng tu hú là âm thanh quen thuộc của đồng quê Việt Nam. Nếu tiếng tu hú trong bài Khi con tu hú của Tố Hữu báo hiệu mùa hè, khắc khoải kêu mãi, kêu hoài trong hiện thực  người chiến sĩ đang bị cầm tù thể hiện khát vọng tự do. Thì trong cảnh sống đơn côi của 2 bà cháu giữa đói nghèo và chiến tranh, tiếng chim tu hú phải chăng là tiếng đồng vọng của đất trời để an ủi kiếp người khổ đau ? Có thể nói phải có sự gắn bó sâu nặng với quê hương, với Tổ Quốc thì Bằng Việt mới đưa được cái âm thanh rất đồng nội ấy vào trong thơ của mình. Từ tiếng tu hú tha thiết, nhà thơ nhớ về những kỷ niệm với bà. Đó là những năm tháng bà hay kể chuyện những ngày ở Huế cho cháu nghe. Điệp ngữ “Bà – cháu” đã thể hiện được tình bà cháu quấn quýt yêu thương.  

      Hơn thế nữa, tiếng chim tu hú còn gợi nhớ cho tác giả về những năm tháng đất nước có chiến tranh, hai bà cháu phải rời làng đi tản cư, bố mẹ phải đi công tác, cháu vì thế phải ở cùng bà trong quãng thời gian ấy, nhưng dường như đối với đứa cháu như thế lại là một niềm hạnh phúc vô bờ.? cùng bà, ngày nào cháu cũng cùng bà nhóm bếp:

Mẹ cùng cha bận công tác không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học.
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cách đồng xa

     Hình ảnh người bà đã hiện lên với những cử  chỉ, việc làm tận tuỵ đầy tình yêu thương: bà bảo cháu, dạy cháu, chăm cháu học. Giờ đây, ở nơi xa xôi, nhà thơ nghĩ về bà, nhớ đến bà và thương bà khó nhọc. Giọng thơ đột ngột chuyển từ giọng điệu diễn tả cảm xúc sang lời tâm sự, đối thoại. Những kỷ niệm đầm ấm về tình cảm bà cháu gắn liền với hình ảnh bếp lửa và niềm mong ước được đỡ đần, chăm sóc bà. Câu thơ giản dị như lời ăn tiếng nói hàng ngày, không trau chuốt bởi đó là tiếng nói của tình cảm yêu thương. Bà luôn luôn bên cháu, dạy dỗ chăm sóc cho cháu lớn lên, nuôi dưỡng cả tâm hồn lẫn thể chất cho cháu. Vậy mà bây giờ cháu lại đi xa, để bà một mình khóc nhọc.

     Cảm xúc dâng trào cùng với lòng biết ơn bà vô tận:

Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:
“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!

     Trong khổ thơ này tác giả đã tác giả đã khéo léo hòa nỗi đau riêng của mình của cá nhân một gia đình, một ngôi làng vào nỗi đau chung của toàn dân tộc. Qua những câu thơ “ giặc đốt làng” tác giả đã tố cáo tội ác của giặc khi  chà đạp lên những vùng quê Việt Nam, nơi chỉ có toàn người già trẻ nhỏ không có sức chống cự nhưng chúng vẫn không tha. Đó là tội ác, sự bất lương của bè lũ cướp nước mà ngàn đời sau những con người chính nghĩa trên toàn thế giới vẫn còn nguyền rủa.

     Hình ảnh người bà lại hiện lên nhưng không phải do tình cảm thương mến của người cháu mà hiện lên như một anh hùng kiên gan. Tác giả nhắc tới bà qua những lời dặn dò đanh thép “mày có viết thư chớ kể này kể nọ. Cứ bảo nhà vẫn được bình yên” Một người bà thật vĩ đại, dù giặc vừa đốt làng vừa tàn phá khốc liệt, nhưng người bà không muốn làm mỏi chân chùn gối những người nơi chiến trường, mà cương quyết im lặng không nói ra, tạo cho người ở tiền tuyến sự yên tâm là ở nhà mọi người vẫn khỏe vẫn tốt, vẫn bình yên. Tấm lòng của bà thật không từ ngữ nào có thể tả hết được sự hiên ngang, tinh thần hy sinh quả cảm.

Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn,
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…

     Rõ ràng không còn là bếp lửa mà là ngọn lửa luôn cháy trong lòng bà. Có người nói cứ quay ngược trái tim người sẽ thành hình ngọn lửa. Vậy thì ngọn lửa chính là trái tim, là tâm hồn của bà như bao người Việt Nam luôn tin tưởng và hi vọng về một ngày mai thanh bình. Rõ ràng bà đã nhóm tình yêu và truyền lửa cho cháu. Từ bếp lửa bà nhen sớm chiều đã bùng lên thành ngọn lửa bất diệt, ngọn lửa của tình thương luôn ủ sẵn của niềm tin dai dẳng bền bỉ, ngọn lửa của ý chí. Và từ lòng biết ơn bà vô hạn, nhà thơ đã suy ngẫm gì về cuộc đời bà:

Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm,
Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi,
Nhóm niềm xôi gạo mới, sẻ chung vui,
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ…
Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!

     Đó là một cuộc đời lận đận, gian nan, vất vả. Có thể nói, trong chiến tranh gian khổ, người bà của nhà thơ, cũng như tất cả các bà, các mẹ khác luôn là những người phụ nữ gian truân,  vất vả. Họ cống hiến hết mình, trở thành hậu phương vững mạnh cho người chồng, người cha đi chiến đấu. Ở họ, toát lên phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam kiên cường, bất khuất. Người bà trong bài thơ đã nhóm bếp lửa, nhóm lên niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi, nhóm niềm xôi gạo mới, nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ. Đối với mỗi gia đình Việt thì vị ngọt bùi khoai sắn, vị ngạt ngào của hương nếp mới đều do bàn tay tần tảo của bà, của mẹ nhóm lên. Bà truyền cho cháu, cháu truyền cho bà tình yêu thương ruột thịt nồng đượm. Bà mở rộng tấm lòng gắn bó với làng xóm quê hương. Bà như mộ người bạn thân, chia sẻ những vui buồn tuổi thơ. Từ đó nhóm lên lòng  tin, ước mơ hoài bão của cháu về tương lai. Với điệp ngữ và biện pháp tu từ ẩn dụ, nhà thơ đã nhấn mạnh được rằng bà nhóm dậy cả một cuộc đời mới, ấm no hạnh phúc và những niềm tin, những kỷ niệm ngọt ngào tuổi thơ. Điệp từ “nhóm” với 4 chi tiết, hình ảnh. Bếp lửa đã nhen lên không chỉ bằng nhiên liệu từ bên ngoài mà còn chính là được nhóm lên từ ngọn lửa trong lòng bà, ngọn lửa của sự sống, lòng yêu thương. 4 chi tiết ấy đã bồi đắp cao dần, toả sáng mạnh dần nét kì lạ và vẻ đẹp thiêng liêng của bếp lửa từ vóc dáng , việc làm nhất là tình nghĩa của bà.  

 

 

 


phân tích bài thơ Bếp lửa

      Những câu thơ cuối bài là lời tự bạch của người cháu đi xa khi đã trưởng thành. Người cháu tự thấy mình đã có được nhiều điều may mắn  trong cuộc sống. Người cháu được đi học nước ngoài, tiếp nhận những điều tốt đẹp:

Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?

      Giờ cháu đã đi xa nhưng người cháu vẫn luôn nhắc nhở bản thân mình  về hình ảnh bếp lửa gắn với những kỉ niệm nồng ấm giữa bà và cháu. Có thể khẳng định, chẳng lúc nào người cháu có thể nguôi quên những kỉ niệm đẹp đó. Khổ thơ cuối thể hiện niềm tin yêu bất diệt và lòng biết ơn bà sâu sắc. Nay cuộc sống của cháu đã đầy đủ, hiện đại với bếp điện, bếp ga nhưng không nguôi nhớ về“ bếp lửa” nơi quê nhà. Không gian có xa cách và cho dù cuộc sống có đổi thay nhưng tình thương nhớ bà vẫn tha thiết mãnh liệt.

     Trân trọng yêu quí bà chính là biểu hiện cụ thể của lòng yêu quê hương đất nước. Ai cũng có một tuổi thơ và tuổi thơ của Bằng Việt quả thật là một tuổi thơ đẹp đáng nhớ. Bài thơ đã đưa ta về với những ngày xưa tưởng như đã ngủ ngon trong quên lãng. Hình ảnh người bà, tình bà cháu có sức toả sáng nâng đỡ cháu đi suốt cả cuộc đời, khiến cho mỗi người càng gắn bó với gia đình, quê hương.

     Bếp lửa đã thể hiện tình cảm sâu nặng thiêng liêng của cháu với bà, qua đó khẳng định tình yêu quê hương sâu nặng của tác giả.

>>>XEM THÊM

Spread the love
Loading...

Check Also

nghị luận về lòng tự trọng

Suy nghĩ về lòng tự trọng | Làm văn mẫu

(Văn mẫu lớp 9) – Suy nghĩ về lòng tự trọng (Bài làm của học …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *