Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 11 / Phân Tích Bài Thơ Bài Ca Ngất Ngưởng Của Nguyễn Công Trứ | Văn 11

Phân Tích Bài Thơ Bài Ca Ngất Ngưởng Của Nguyễn Công Trứ | Văn 11

(Văn mẫu lớp 11) – Em hãy phân tích bài thơ Bài ca ngất ngưỡng của Nguyễn Công Trứ (Bài làm của học sinh Nguyễn Lam Giang)

Đề bàiPhân Tích Bài Thơ Bài Ca Ngất Ngưởng Của Nguyễn Công Trứ.

BÀI LÀM

      Nguyễn Công Trứ là một nhà thơ có vị trí đáng kể trong văn học Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỉ XIX. Sáng tác của Nguyễn Công Trứ hình thành một khuynh hướng mới khác với tinh thần của văn học giai đoạn trước và mang sắc thái thời đại rõ rệt. Theo các nhà nghiên cứu, Bài ca ngất ngưỡng là một kiệt tác, được làm sau năm 1848 là năm Nguyễn Công Trứ cáo quan về trí sĩ ở quê nhà. qua bài thơ giàu chất tự thuật này, nhà thơ đã khái quát về lịch sử cuộc đời mình, khẳng định những nét bản chất nhất trong tính cách một danh sĩ nửa đầu thế kỉ XIX: có tài năng lớn, có nhân cách cứng cỏi, có nhiều phẩm chất cao quý, có bản lĩnh vững vàng trước sự phức tạp của thời thế. 

     Nguyễn Công Trứ sinh năm 1778 và mất 1859, xuất thân trong một gia đình Nho học ở làng Uy Viễn huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1819 ông thi đỗ giải Nguyên, đỗ đầu kì thi Hương và được nhà Nguyễn bổ làm quan ông là người có tài năng, tâm huyết trên nhiều lĩnh vực như văn hoá, kinh tế và quân sự. Là một nhà thơ, một võ quan cao cấp, người có công khai khẩn đất lấn biển ở hai huyện Kim Sơn (Ninh Bình và Tiền Hải – Thái Bình). Con đường làm quan cũng thăng giáng thất thường. Có thời gian được thăng tổng Đốc Hải An 1832. Có lúc lại bị giáng xuống làm lính biên thuỳ ở Quảng Ngãi.Trong suốt 28 năm làm quan thì đến 5 lần bị giáng chức và cách chức. Ông là người có tài năng, tâm huyết trên nhiều lĩnh vực như văn hoá, kinh tế và quân sự. 

     Nguyễn Công Trứ sáng tác chủ yếu bằng chữ Nôm và theo thể loại hát nói. Một điệu của ca trù. Nguyễn Công Trứ là người có công đem đến cho hát nói nội dung phù hợp. Tương truyền Nguyễn Công Trứ làm đến trên dưới 1000 bài thơ Nôm nhưng phần lớn đã bị thất lạc. Hiện chỉ còn khoảng 100 bài. Thể loại ưa thích của Nguyễn Công Trứ là hát nói. Nội dung các sáng tác của ông rất phức tạp: vừa ca tụng con người hành động lại vừa ca tụng lối sống hưởng lạc, cầu nhàn; vừa ca tụng Nho giáo, vừa ca tụng đạo giáo; vừa lạc quan, vừa bi quan; vừa khẳng định mình, vừa phủ định mình … Trong Nguyễn Công Trứ là một khối mâu thuẫn lớn.

Loading...

 

     Bài thơ Bài ca ngất ngưỡng được sáng tác khi Nguyễn Công Trứ cáo quan về hưu năm 1848, sống ở quê nhà với cuộc sống phóng khoáng, tự do, nhàn tản. Tác phẩm được sáng tác theo thể ca trù – một thể thơ luật tương đối tự do, phóng khoáng, kết hợp với song thất lục bát, lục bát với kiểu nói lối của hát chèo.

     Tác giả tự giới thiệu về tài năng và danh vị xã hội cùng với phong cách sống và bản lĩnh trước sự chìm nổi của mình. Đồng thời khẳng định phong cách ấy.  Toàn bộ bài thơ là lời tự thuật , đề cập trực tiếp đến phong cách thái độ sống ngông nghênh, ngang tàng khinh đời ngạo thế của một nhân cách nhà nho, phong cách đó thể hiện ở hai từ “ngất ngưởng”. Trong 6 câu đầu phong cách ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ được thể hiện rõ nét:

Vũ trụ nội mạc phi phận sự

Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng.

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.

Lúc bình Tây cờ đại tướng,

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.

     Trong sáu câu thơ đầu này, Nguyễn Công Trứ tự giới thiệu tài năng, danh vị xã hội của mình. Đối với ông, mọi việc trong trời đất đều là phận sự của ta “vũ trụ… phận sự”. Đó là lí tưởng sống của nhà Nho, coi mọi việc trong vũ trụ là bổn phận của kẻ sĩ. Nguyễn Công Trứ từng nói: “Đã mang tiếng ở trong trời đất-  Phải có danh gì với núi sông”. Ông quan niệm: nam nhi không phải sinh ra để an nhàn ưởng thụ mà phải phấn đấu.

      Nguyễn Công Trứ đã sử dụng đại từ nhân xưng: “Ông” cùng với cách xưng tên trực tiếp. Đây là một cách xưng tên đầy bản lĩnh. Trên có vũ trụ, dưới  là ông. Như vậy, “Ông Hi Văn” đã ngang tầm với vũ trụ: đây là một cách nghĩ ngất ngưởng tạo nên cách sống ngất ngưởng sau này của ông.

    Vậy, ông Hi Văn được miêu tả ở trong tình trạng như thế nào? Ông là người có tài nhưng đã bị “vào lồng”. “Vào lồng”: quan niệm về cách sống trong sự giàng buộc, sống phải có sự cống hiến. Nói cách khác đó là tâm trạng tù túng về tinh thần trong thời đại, nó là cảnh ngộ nhà thơ đang sống. Đây không phải là sự giam hãm về thể xác mà nó là một quan niệm sống rất đáng trân trọng, quan niệm sống của kẻ sĩ, của con người luôn có ý thức về bản thân, về trách nhiệm. Với quan niệm như vậy, Nguyễn Công Trứ đã tự giới thiệu về tài năng và các danh vị xã hội của mình: Đỗ đầu kì thi hương 1819 “khi thủ khoa”; năm 1833 làm tham tán quân vụ; năm 1841 thăng “Tham tán đại thần”; tổng đốc Đông năm 1835 được giữ chức Tổng đốc Hải An (Hải Dương và Quảng Yên); năm 1840 – 1841 chỉ huy quân sự ở Tây Nam Bộ; năm 1848 chính thức làm Phủ Doãn tỉnh Thừa Thiên.

      Như vậy, chúng ta thấy, ông tự nhận mình có “tài bộ” tức là tài hoa. Đặc biệt là “tài thao lược” tức có tài về quân sự (tam lược, lục thao  sách viết về cách dùng binh).

     Lời tự thuật khẳng định tài năng và lí tưởng trung quân, ý thức trách nhiệm của kẻ sĩ ở Nguyễn Công Trứ. Lời tự thuật ấy  diễn tả bằng hệ thống từ Hán Việt uy nghiêm trang trọng kết hợp với âm điệu nhịp nhàng tạo bởi điệp từ, ngắt nhịp câu thơ: “Khi thủ khoa, khi tham tán, khi Tổng đốc Đông, lúc bình Tây, có khi về”. Tất cả đã diễn đạt một tài năng xuất chúng. Mở đầu là học vị thủ khoa vẻ vang. Tiếp đó là chức tước Tham tán, Tổng đốc Đông, phủ doãn Thừa Thiên và cả chiến tích “Bình Tây cờ Đại tướng. Không phải ai cũng ý thức được tài năng ấy. Phải là người có ý thức được mình, tài năng của mình vượt lên trên thiên hạ mới có cách nói ấy.

     Cách tự nói về tài năng, danh vị của mình là xuất phát từ thái độ sống ngất ngưởng. Ngất ngưởng không phải diễn tả một người thân hình cao vượt hẳn xung quanh với tư thế ngả nghiêng. Hai tiếng ngất ngưởng nhìn diễn tả một thái độ, một tinh thần một con người biết vượt mình lên trên thiên hạ. Sống giữa mọi người, đi giữa cuộc đời mà dường như chỉ biết có mình. Một con người khác đời và bất chấp mọi người. Đây là kiểu người thách thức, đối lập với xung quanh. “Ngất ngưởng”: Thái độ, tinh thần của tác giả. Do vậy từ “ngất ngưởng” xuất hiện rất nhiều lần trong bài thơ. Đây là phản ứng trên tư cách là một kẻ sĩ quân tử, một đấng trượng phu coi thường được mất, coi thường dư luận, thực hiện triết lí sống cho mình, cốt thoả chí mình.

     Mười hai câu tiếp, Nguyễn Công Trứ miêu tả một thái độ sống theo ý chí và sở thích cá nhân, một phẩm chất vượt lên trên thói tục đó là: Cuộc sống an nhàn, hưởng lạc. Câu thơ thứ 7 nói đến sự chuyển giao từ cuộc đời sôi nổi đến những giây phút an nhàn, hưởng lạc. Nói cách khác, nó đi từ giai đoạn “Vào lồng” đến giai đoạn “Sổ lồng”. Ông đã giải thoát khỏi những ràng buộc thông thường, những thế lực tinh thần vẫn ngự trị xưa nay:

Đô môn giải tổ chi niên,

Đạc ngựa bò vàng đeo nhất ngưởng.

     Đây là một việc làm trái khoáy, ngược đời. Nguyễn Công Trứ dám trêu ngươi, khinh thị cả thế gian kinh kỳ. Khi về hưu ông sống ngất ngưởng giữa chốn nhân gian. Ông đã giải thoát khỏi những ràng buộc thông thường, những thế lực tinh thần vẫn ngự trị xưa nay. Về hưu trí, người ta cưỡi ngựa, ông cưỡi bò vàng. Về hưu, ông thường lên chùa mang theo những cô hầu gái. Phan Bội Châu có thơ Vịnh việc này: “Hà Như Uy viễn tướng quân thú/Tuý ủng hồng nhi thượng pháp môn” (Sao có được cái thú của Uy viễn tướng quân/Rượu say đưa các cô gái trẻ lên chùa).

      Nguyễn Công Trứ ngất ngưởng giữa chốn nhân gian, cách nghỉ cách chơi khác người:

Kìa núi nợ phau phau mây trắng.

Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì.

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.

Được mất dương dương người thái thượng,

Khen chê phơi phới ngọn đông phong,

      Xưa kia là một vị đại thần, một danh tướng — “tay kiếm cung” — thế mà nay sống cuộc đời hiền lành, bình dị “nên dạng từ bi”. Đi vãn cảnh chùa, đi thăm thú những danh lam thắng cảnh “Kìa núi nọ phau phau mây trắng”, ông đã mang theo “một đôi dì”, nhũng nàng hầu xinh đẹp với “gót tiên đủng đỉnh”…

      Ông đã sống hết mình và chơi cũng hết mình. “Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng” là một tứ thơ độc đáo. Câu thơ tự trào gợi ít nhiều hóm hỉnh. Bụt cười, hay thiên hạ cười? Hay ông Hi Văn tự cười mình? Đã thoát vòng danh lợi rồi, thì chuyện “được, mất” là lẽ đời, như tích “Thất mã tái ông” mà thôi, cũng chẳng bận tâm làm gì! Chuyện “khen, chê” của thiên hạ, xin bỏ ngoài tai, như ngọn gió đông (xuân) phơi phới thổi qua. Có bản lĩnh, có tự tin về tài đức của mình mới có thái độ phủ định như thế, dám sống vượt lên trên mọi thế tục. Có biết Nguyễn Công Trứ là một nhà nho được đào luyện nơi cửa Khổng sân Trình, một vị đại quan của triều Nguyễn thì mới thấy được một phần nào cá tính cốt cách khác đời, một nhân cách khác đời, rất phóng túng, phong tình và tài tình hiếm thấy của ông. Không quan tâm đến chuyện “được, mất”, bỏ ngoài tai mọi lời thị phi, khen chê, ông đã sống một cách nhi nhiên, hổn nhiên, vô cùng thảnh thơi, vui thú. Tuy ngất ngưởng mà trong sạch, thanh cao. Đây là hai câu thơ tuyệt hay trong Bài ca ngất ngưởng:

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng.

Không Phật, không Tiên, không vướng tục.

     Nguyễn Công Trứ giờ đây không là người cõi Phật, cõi Tiên mà vẫn là con người của cuộc đời song ông không vướng tục. Ông sống thoát tục, xa lánh trần thế: vui với cốc rượu ngon, những âm thanh trầm bổng. Ông tự so sánh mình với người thái thượng. Được hay mất, phú quý hay bần hàn, được khẳng định hay bị phủ định trong cuộc sống và trong quan hệ xã hội, ông vẫn tỏ ra bình thản, chẳng đoái hoài gì: “Được mất…. đông phong”. Tiểu sử đã chứng minh rõ thái độ ấy của ông. Khi làm Đại tướng cũng như khi bị cách tuột làm lính thú, ông vẫn “dương dương như người thái thượng”. Bởi ông có tài năng và phẩm chất thực sự.

      Bên cạnh việc nói về cuộc sống an nhàn của mình, ông còn khẳng định tài năng, phẩm chất:

Nghĩa vua tôi cho trọn vẹn đạo sơ chung, 

Trong triều ai ngất ngưởng như ông!

     Nguyễn Công Trứ ngất ngưởng tự hào là một trung thần. Dám tự sánh mình với các danh sĩ nổi tiếng của phương Bắc. Ông tự ví mình với những con người nổi tiếng, có sự nghiệp hiển hách của Trung Quốc, đồng thời cũng khẳng định về phận sự của một bầy tôi, một nhà Nho với quốc gia, dân tộc. Tác giả khẳng định thái độ sống ngất ngưởng của mình sau khi đã khẳng định tư tưởng, vượt lên thói tục và so sánh với những bậc danh sĩ tài giỏi trong sử sách Trung Hoa. Ông cũng là người ăn ở có trước sau: “Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung”.

phan tich bai tho bai ca ngat nguong
Phân Tích Bài Thơ Bài Ca Ngất Ngưởng Của Nguyễn Công Trứ | Văn 11

      Câu thơ kết một lần nữa khẳng định thái độ sống của một nhân cách cứng cỏi, một tài năng, một phẩm giá của một danh sĩ nửa đầu thế kỉ XIX. Dù sao Nguyễn Công Trứ cũng là một môn đồ của đạo Khổng. Tư tưởng “trí quan trạch dân” đã thôi thúc ông đi học, đi thi, đỗ đạt ra làm quan lo đời, giúp nước. Lí tưởng “Tề gia trị quốc bình thiên hạ” luôn luôn vẫy gọi những người như Nguyễn Công Trứ. Ông từng nêu chí khí của kẻ làm trai:

 Đã làm trai sống trong trời đất

 Phải có danh gì với núi sông

     Danh vọng với Nguyễn Công Trứ phải gắn liền với tài năng thực sự, danh vọng phải gắn liền với phẩm chất. ở Nguyễn Công Trứ, ta thấy có ba điểm đáng quý: Tài thao lược, bản chất cứng cỏi, biết lo cho dân về mặt kinh tế-  đời sống ổn định. Tuy nhiên vì lòng trung thành triệt để của một bề tôi mà ông đã tham gia đàn áp cuộc khởi nghĩa nông dân miền núi. Nhìn chung vì lí tưởng, tài năng của trang nam nhi, ông vẫn ra làm quan.

     Bài ca ngất ngưởng thể hiện rõ phong cách sống của một con người tài năng, suốt đời vì dân, vì nước. Song đó cũng là con người tự tin vào bản thân mình, có bản lĩnh và phẩm cách hơn người, có cá tính độc đáo. Bài thơ giúp ta hiểu thêm về con người và nhân cách cao đẹp của một trí thức lớn, một nhà chính trị và nhà thơ tài ba của đất nước.

Spread the love
Loading...

Check Also

suy nghĩ về ý kiến thơ trước hết là cuộc đời sau đó mới là nghệ thuật

Suy nghĩ về ý kiến Thơ trước hết là cuộc đời sau đó mới là nghệ thuật | Văn mẫu

(Văn mẫu lớp 11) – Em hãy nêu suy nghĩ về ý kiến của nhà thơ, …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *