Home / VĂN MẪU THCS / Văn mẫu lớp 9 / Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy | Văn Mẫu 9

Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy | Văn Mẫu 9

(Văn mẫu lớp 9) – Em hãy phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy (Bài làm của học sinh Lương Chi)

Đề bàiBài Văn Phân Tích Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy.

BÀI LÀM

      Không biết tự bao giờ trăng đã trở thành nàng thơ ,thành người bạn tri âm tri kỉ của biết bao tâm hồn thi sĩ.Với ánh sáng huyền diệu,với chu kỳ tròn khuyết lạ lùng,trăng đã gợi cho các thi nhân cổ kim nhiều thi tứ. Vầng trăng toả ánh sáng dịu mát trong những đêm trung thu,trên khắp các đường làng ngõ xóm ,với mỗi người Việt Nam,trăng thật vô cùng  thân thuộc .Vậy mà có khi nào ta lãng quên người bạn thiên nhiên tri âm tri kỉ để đến lúc vô tình gặp lại ta bỗng giật mình tự ăn năn,tự trách lòng ta ? Bài thơ Ánh trăng (1978) của Nguyễn Duy được khơi nguồn từ một cảm hứng như thế. Bài thơ như một lời tâm sự chân thành đã neo lại trong tâm hồn người đọc những tâm trạng riêng,những suy ngẫm riêng giàu trăn trở .

      Nguyễn Duy tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ,sinh năm 1948 tại Thanh Hoá. Ông là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Phong cách thơ ông rất độc đáo uyển chuyển mượt mà, hiện đại ở thi liệu, cấu tứ. Ông nhập ngũ 1966 và tham gia chiến đấu ở nhiều chiến trường. Năm 1975 ông làm báo văn nghệ, hiện sống tại Thành phố Hồ Chí Minh.

phân tích bài thơ Ánh trăng

Loading...

      Bài thơ Ánh trăng được viết 1978 ba năm  sau ngày đất nước thống nhất, được in trong tập Ánh trăng – tập thơ của Nguyễn Duy được giải A của Hội nhà văn Việt Nam năm 1984. Nguyễn Duy viết bài thơ này khi cuộc kháng chiến đã khép lại được ba năm. Ba năm sống trong hòa bình, không phải ai cũng còn nhớ những gian khổ và kỉ niệm nghĩa tình trong quá khứ. Nguyễn Duy viết bài thơ Ánh trăng như một lời tâm sự, một lời nhắn nhủ chân tình với chính mình, với mọi người về lẽ sống.

      Bài thơ là tâm trạng của tác giả được kể theo trình tự thời gian, được chia làm ba phần.

      Hai khổ thơ đầu là cảm nghĩ về  vầng trăng  trong quá khứ với những năm tháng kháng chiến chống ngoại xâm. Vầng trăng tuổi thơ trải rộng mênh mông trong một không gian bao la:

"Hồi nhỏ sống với đồng,

với sông rồi với bể

Hồi chiến tranh ở rừng

Vầng trăng thành tri kỷ"

      Quá khứ tuổi thơ của tác giả – hồi nhỏ gắn với các hình ảnh: đồngsông, bể. Như vậy, chúng ta thấy, hồi thơ bé của Nguyễn Duy sống chan hòa, gắn bó với thiên nhiên. Thiên nhiên trở thành người bạn thân thiết của nhà thơ. Và rồi, theo mạch thời gian, đi chiến đấu trong chiến tranh, thì vầng trăng trở thành người bạn tri kỉ của ông. Trong chiến tranh- gian khổ ,ác liệt, trăng là minh chứng người bạn tri âm tri kỉ, là đồng chí đồng đội, cùng chia sẻ những vui buồn trong chiến trận. Điệp từ với,phép nhân hóa, liệt kê  thể hiện sự gắn bó với vầng trăng tri kỉ. Qua khổ thơ này, người đọc nhận thấy vầng trăng hiện ra trong không gian của ruộng đồng, sông biển, núi rừng. Đó là vầng trăng của “ hồi nhỏ sống với đồng” và sau này là “ hồi chiến tranh ở rừng”.

     Lúc ấy, con người sống giản dị “ trần trụi với thiên nhiên – hồn nhiên như cây cỏ”. Vầng trăng đã trở thành người bạn tri kỉ, thành “ vầng trăng tình nghĩa” gắn bó trong suốt những năm tháng tuổi ấu thơ ở quê nhà đến hồi chiến tranh sống ở rừng:

"Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa"

      Vầng trăng trong quá khứ ấy mang một vẻ đẹp trần trụi với thiên nhiên, hồn nhiên như cây cỏ. Vầng trăng qua miêu tả của tác giả trở nên mộc mạc, hoang sơ, con người cũng vô tư , hồn nhiên , trong sáng. Từ ngỡ  cho chúng ta thấy rằng chẳng, không, chắc chắn… không bao giờ  nhà thơ có thể quên được vầng trăng tình nghĩa. Nghệ thuật so sánh thể hiện sự chan hòa, trăng và người lính có sự đồng cảm sẻ chia : tình nghĩa bền vững mãi mãi.

     Qua hai khổ thơ đầu, vầng trăng trở thành biểu tượng cho quá khứ gian khổ hào hùng, là nghĩa tình của nhân dân đã nhường cơm sẻ áo, là tình đồng đội keo sơn, là vẻ đẹp của đất nước bình dị, thiên nhiên vĩnh hằng. Hơn thế nữa vầng trăng trở thành biểu tượng của quá khứ nghĩa tình. 

      Thế nhưng, cuộc đời bao giờ cũng có những ngã rẽ. Và ngã rẽ của nhân vật trong thơ chính là ngày từ bỏ những năm tháng ở chiến khu để sống một cuộc đời tự do nơi thành phố mỹ lệ:

"Từ hồi về thành phố
quen ánh điện cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường"

      Từ khi về thành phố, con người được sống trong hoàn cảnh hòa bình – chiến tranh giờ đây đã lùi xa. Khi được sống trong sung túc của ánh đèn điện phố xá hào hoa, tráng lệ, con người đã quên mất hình ảnh vầng trăng. Thái độ của con người đã vô tình đến mức tàn nhẫn, trăng trở thành người dưng qua đường. Biện pháp nghệ thuật so sánh đã nói lên được sự vô tình đến mức tàn nhẫn, con người bỗng quên đi cái vầng trăng “ ngỡ không bao giờ quên” kia, bỗng vô tình với “ cái vầng trăng tình nghĩa” kia. 

      Trăng vẫn thủy chung tình nghĩa ,vẫn đi qua ngõ thăm hỏi nhưng con người đã quên trăng, coi thường dửng dưng với trăng. Có thể nói khi hoàn cảnh sống  thay đổi: Người ta dễ dàng lãng quên quá khứ, quên đi những ngày tháng gian khổ, ác liệt, quên đi tình cảm chân thành cao đẹp. Điều đó đã phá vỡ tình bạn tưởng chừng như đã trở thành bất diệt. Khổ thơ hàm chứa tình cảm chua xót bất ngờ.

      Rồi đến một hôm nào đó:

"Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn."

      Trong diễn biến thời gian-sự việc bất thường thình lình đèn điện tắt là tình huống cho bước ngoặt để tác giả bộc lộ cảm xúc. Khi mà phòng tối, bắt buộc con người phải vội bật tung của sổ, và chỉ với hành động vô thức này, nhưng đã đột ngột nhận ra vầng trăng tròn. Khi con người khó chịu,bức bối khi mất điện nên hành động hối hả khẩn trương tìm nguồn sáng thì cũng là lúc tìm lại được hình ảnh vầng trăng ngày xưa, khi mà họ đã lãng quên nó. Tác giả sử dụng những từ có sức gợi tả rất lớn "thình lình", "đột ngột"  để diễn tả một tình huống bất ngờ trong cuộc sống thị thành. Khi ánh điện tắt đi cũng là lúc rào cản giữa con người và ánh trăng bị phá vỡ. Vầng trăng ấy vẫn sáng, vẫn chiếu rọi ánh sáng hiền dịu, vẫn đợi chờ con người trở về với quá khứ nghĩa tình. Và, khi đối diện với vầng trăng sáng, bao kỷ niệm, bao cảm xúc tràn về trong tâm trí của con người:

"Ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rưng

như là đồng là bể

như là sông là rừng"

      Tại sao tác giả không viết ngửa mặt lên nhìn trăng mà là ngửa mặt lên nhìn  mặt ? Vâng mặt nhìn mặt: con người đối diện với vầng trăng, đối diện với quá khứ nghĩa tình từ thời thơ ấu đến lúc trưởng thành-chiến tranh với một tư thế tập trung cao độ. Tư thếđó chính là nhìn nhận lại chính mình với tâm trạng:xúc động , thổn thức đến xót xa. Từ láy rưng rưng đã thể hiện được tâm trạng xúc động, xao xuyến, gợi nhớ, gợi thương . Hai câu thơ sau, nhà thơ sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh ngang bằng: "như là đồng là bể"; "như là sông là rừng". Đồng, bể, sông, rừng là quá khứ, là kỉ niệm, là những hình ảnh đã từng gắn bó sâu nặng với nhà thơ. Bằng nghệ thuật so sánh, và việc lặp lại các hình ảnh trong quá khứ đã nhấn mạnh, khắc sâu những kỉ niệm trong quá khứ. Nhịp thơ nhanh hối hả đánh thức kỉ niệm ,đánh thức tình người. Đối diện với trăng ,con người đã nhận ra sự vô tình của mình.

Phân Tích Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy

      Đến khổ thơ cuối, tứ thơ trở nên sắc nhọn:

"Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình"

      Hình ảnh vầng trăng vẫn tròn vành vành cho dù con người có vô tình với nó đi chăng nữa thể hiện rằng trăng vẫn đẹp, vẹn nguyên, thủy chung, không thay đổi, kể chi người vô tình. Như vậy, vầng trăng trong quá khứ biểu tượng cho sự nguyên vẹn tròn đầy, tượng trưng cho sự nhân hậu, bao dung của thiên nhiên, của cuộc đời, con người ,nhân dân, đất nước. Dù cuộc sống đổi thay, con người thay đổi, ánh trăng vẫn thế, bao dung và rộng lượng. 

     Bên cạnh vầng trăng tròn đầy, là hình ảnh ánh trăng im phăng phắc. Nghệ thuật nhân hóa được nhà thơ sử dụng đạt hiệu quả cao. Trăng- im phăng phắc – không vui, nghiêm khắc nhắc nhở. Đó là sự trách móc trong im lặng, là sự tự vấn lương tâm dẫn đến cái giật mình ở câu cuối: "Đủ cho ta giật mình". Con người giật mình vì ăn năn day dứt, hối hận vì đã quên, đã không nhớ đến vầng trăng một thời đã từng là tri âm tri kỉ. Cái giật mình là cảm giác phản xạ tâm lí có thật của một người biết suy nghĩ, chợt nhận ra sự vô tình, bạc bẽo, sự nông nổi trong cách sống của mình. Thiên nhiên thật nghiêm khắc, lạnh lùng nhưng cũng thật ân tình, độ lượng bao dung, vầng trăng và thiên nhiên luôn trường tồn bất diệt.

     Bài thơ là lời nhắc nhở nguời đọc ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ. Thái độ sống “uống nước nhớ nguồn” đã trở thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam ta. Ánh trăng là một trong những bài thơ đặc sắc của Nguyễn Duy bởi tác phẩm mang một chiều sâu tư tưởng, một triết lý sâu sắc. Bằng thể thơ ngũ ngôn, lời thơ trong sáng, tha thiết, giọng điệu như tâm tình, nhà thơ đã bộc lộ với mọi người những tâm tư sâu kín nhất của mình. Ánh trăng vẫn sẽ sống mãi trong lòng người đọc như một bài học sâu sắc: phải sống thuỷ chung, trọn vẹn, phải nghĩa tình sắt son với bạn bè đồng chí, không bao giờ được lãng quên một quá khứ nghĩa tình, một tình cảm trong sáng, mộc mạc. 

>>>XEM THÊM

Spread the love
Loading...

Check Also

nghị luận về lòng tự trọng

Suy nghĩ về lòng tự trọng | Làm văn mẫu

(Văn mẫu lớp 9) – Suy nghĩ về lòng tự trọng (Bài làm của học …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *