Home / VĂN MẪU THCS / Văn mẫu lớp 8 / Thuyết minh về chiếc nón lá việt nam | Văn Mẫu

Thuyết minh về chiếc nón lá việt nam | Văn Mẫu

(Văn mẫu lớp 8) – Em hãy thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam

(Bài làm của học sinh Phan Văn Tần)

Đề bàiThuyết minh về chiếc nón lá việt nam

BÀI LÀM

     Cùng với tà áo dài truyền thống thiết tha thì nón lá còn được biết đến như một trang phục truyền thống của người Việt Nam. Chiếc nón lá đã tôn lên được vẻ duyên dáng, yểu điệu của phụ nữ và là một phần không thể thiếu được trong cuộc sống của chúng ta.

Loading...

    Cho đến nay, nguồn gốc xuất xứ của nón lá vẫn còn là một điều bí ẩn. Theo những ghi chép mà ông cha ta để lại thì hình tượng nón lá đã được chạm khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, thạp đồng Đào Thịnh từ 25000-3000 năm về trước. Điều đó cho thấy nón lá đã xuất hiện từ rất lâu, trải qua bao thăng trầm lịch sử, phát triển qua các thời đại để trở thành chiếc nón lá như ngày hôm nay. Có lẽ từ ngàn xưa, với cái nắng chói chang của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng lắm mưa nhiều tổ tiên ta đã biết lấy lá kết vào nhau để làm vật dụng đội lên đầu để che nắng che mưa dần dần nó được cải tiến thành những chiếc nón có hình dạng khác nhau. Nhưng dù nón lá được cách tân, đổi mới hay không thì nó vẫn giữ trọn vẻ đẹp giản dị, gần gũi, vẫn là người bạn thủy chung, thân thiết của người phụ nữ Việt Nam.

Thuyết minh về chiếc nón lá việt nam

     Nón lá có dạng hình chóp như kim tự tháp thu nhỏ, phần đáy nhô cao. Đường kính của nón khoảng 40-50 cm, cao khoảng 20cm nên rất vừa tay, dễ cầm, tiện mang theo. Quai nón là một chi tiết trang trí cho chiếc nón thêm trang nhã, đồng thời làm tăng nét duyên dáng nhưng cũng rất kín đáo cho người đội nón. Quai nón thường làm bằng vải voan có đủ sắc màu trông rất bắt mắt trên nền trắng tinh khôi của chiếc nón. Chiếc nón thường có màu trắng, gợi lên sự thanh thoát nền nã.

     Đúng như cái tên gọi của nó, nón lá được làm bằng lá, nhưng lá ở đây cũng có nhiều loại như lá cọ, lá hồ, lá tre, rơm,… tùy theo từng vùng miền mà lựa chọn chất liệu lá cho phù hợp. Nhưng dù là chất liệu gì thì tiêu chí của người làm nón là tạo ra chiếc nón hoàn chỉnh, đẹp mắt, phù hợp với mọi người.

     Những chiếc lá nón được lấy về từ rừng đem phơi khô cho trắng được xếp tứng cái chồng khít lên nhau cất trong những túi ni lông cho đỡ mốc. Khi đem ra làm nón người phụ nữ, thợ thủ công lấy từng chiếc lá, là cho phẳng rồi lấy kéo cắt chéo đầu trên lấy kim sâu chúng lại với nhau chừng 24 – 25 chiếc lá cho một lượt sau đó xếp đều trên khuôn nón. Lá nón mỏng và cũng chóng hư khi gặp mưa nhiều nên các thợ thủ công nghĩ ngay ra tận dụng bẹ tre khô để là lớp giữa hai lớp lá nón làm cho nón vừa cứng lại vừa bền. Khâu đoạn tiếp, thợ thủ công lấy dây cột chặt lá nón đã trải đều trên khuôn với khung nón rồi họ mới bắt đầu khâu. Chỉ dùng để khâu cũng phải chọn rất kĩ lưỡng thì nó mới bền. Thợ thủ công của chúng ta dùng chỉ bằng nhiều loại khác nhau nhưng chỉ phải dai mềm. Họ cần mẫn khâu từng mũi kim thanh mỏng đều tăm thắp, dường như người khâu nón muốn gửi gắm trong chiếc nón đó bao ước mơ, ý nguyện của mình, cho nên họ trồng trong lớp lá nón những hình ảnh cô thiếu nữ, những đóa hoa, có khi có cả bài thơ nữa cho nên chiếc nón lá còn gọi là chiếc nón bài thơ là như vậy. Công đoạn làm nón cũng thật là công phu đòi hỏi người làm nón phải kiên trì nhẫn lại chăm chỉ mới có thể làm ra những chiếc nón đẹp và bền. Chính vì lẽ đó mà du khách nước ngoài đến thăm Việt Nam không chỉ trầm trồ khen ngợi những cô gái Việt Nam duyên dáng trong bộ áo dài cùng chiếc nón lá trên đầu che dấu nụ cười đằm thắm bước đi uyển chuyển thướt tha 

     Hiện nay, Việt Nam có rất nhiều làng làm nón nổi tiếng, trong đó không thể không kể đến làng Chuông với nón Hà Tây (nay thuộc Hà Nội) mà ai cũng quen thuộc, ngoài ra còn có nón Huế, nón Quảng Bình cũng có những đặc điểm riêng thu hút những người khách nước ngoài và cả những người Việt Nam thân thuộc với nó. Nón Huế được trang trí thêm những bài thơ phía trong nón, cho nên nó có tên gọi là nón bài thơ xứ Huế.

     Dựa vào hình dáng, cấu tạo, nơi làm nón, người ta có thể phân loại nón ra làm nhiều loại như: nón quai thao (được dùng trong lễ hội miền Bắc), nón bài thơ (Huế), nón rơm (được làm bằng rơm),… Sự đa dạng của nón lá thể hiện sự phong phú trong bản sắc dân tộc Việt Nam.

     Nón lá có rất nhiều ý nghĩa đối với người Việt. Khi trời mưa hoặc nắng, ta có thể đội nón thay cho chiếc mũ vải hay ô. Nón là một vật không thể thiếu đối với người phụ nữ Việt Nam. Nó tôn lê vẻ đẹp dịu dàng, thanh tao nhưng cũng rất kín đáo cho họ. Cùng với áo dài, nón lá trở thành biểu tượng đẹp: độc đáo, đầy sức sống nhưng cũng bình dị. Ngày xưa trong triều đình hình ảnh anh lính quân cơ đội nón dấu, chiếc nón nhỏ vành chỉ che hết cái đầu, hình ảnh đó đã đi vào thơ ca đó sao: 

“Ngang lưng thì thắt bao vàng

Đầu đội nón dấu, vai mang súng dài…” 

     Hình ảnh đó được khắc rất rõ trong cỗ bài tam cúc mà các bạn vẫn chơi đấy. Còn ai đến vùng quê Kinh bắc nghe những cô gái nơi đây hát những làn điệu dân ca quan họ hẳn không thể quên chiếc nón quai thao rộng vành một loại nón cổ làm bằng lá già to gấp hai nón thường và trông như cái thúng vì vậy dân gian thường gọi là nón thúng quai thao. 

    Ta còn nhớ hình ảnh người nghệ sĩ hát quan họ với con mắt lá dăm liếc dài sắc nhọn tình tứ cùng nụ cười duyện ẩn dấu sau vành nón quai thao đã làm nao lòng bao khán giả và du khách nước ngoài. Nón quai thao trở thành điểm nhớ của quê hương quan họ thanh lịch từ bao đời nay… Không chỉ làm vật che nắng che mưa, chiếc nón lá Việt Nam tự nhiên đã đi vào huyền thoại là một nét đẹp văn hoá, mang cái tâm hồn quê hương dân tộc, gợi cảm hứng cho thi ca: “Nón bài thơ, em đội nón bài thơ xứ nghệ…” Chiếc nón lá chiếc nón bài thơ mảnh mai thanh thoát nhẹ nhàng như giọng nói ngọt ngào của các cô gái xứ Huế thân thương đã trở thành dụng cụ biểu diễn nghệ thuật độc đáo, mang phong cách dân tộc đậm đà.

     Nay cuộc sống thời hiện đại văn hoá phương Tây tràn vào nước ta có rất nhiều nhà máy sản xuất ra biết bao mẫu mũ, ô, dù xinh đẹp và lộng lẫy, nhưng trên khắp các nẻo đường nông thôn đến thành thị, hình ảnh chiếc nón lá vẫn xuất hiện. Điều đó chứng tỏ sự trường tồn của nó cùng thời gian, cả về giá trị sử dụng lẫn nét đẹp văn hoá thuần phong mĩ tục của dân tộc Việt Nam.

Spread the love
Loading...

Check Also

Cảm nhận của em về bài thơ khi con tu hú của tố hữu

Cảm nhận của em về bài thơ khi con tu hú của tố hữu | Làm văn mẫu

(Văn mẫu lớp 8) – Em hãy nêu cảm nhận về bài thơ Khi con tu hú …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *