Home / SOẠN VĂN / Soạn văn lớp 9 / Soạn bài Sang thu của Hữu Thỉnh | Làm văn mẫu

Soạn bài Sang thu của Hữu Thỉnh | Làm văn mẫu

(Soạn văn lớp 9) – Soạn bài “Sang thu”của Hữu Thỉnh 

(Bài làm của học sinh Lê Ánh Trang)

Đề bàiSoạn bài Sang thu của Hữu Thỉnh

BÀI LÀM:

I- Đọc và tìm hiểu chung:

Loading...

1. Tác giả

– Nhà Thơ Hữu Thỉnh tên đầy đủ là Nguyễn Hữu Thỉnh, sinh năm 1942, quê ở huyện Tam D­ương tỉnh Vĩnh Phúc. 

– Ông là nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước, ngòi bút gắn bó với đề tài chiến tranh, người lính và cuộc sống nông thôn.Ông là nhà thơ, viết nhiều, viết hay về con người, cuộc sống ở làng quê, về mùa thu.

– Ông tham gia Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, từ năm 2000 là Tổng thư­ ký Hội Nhà văn Việt Nam.

– Thơ của Hữu Thỉnh nhẹ nhàng, giàu hình ảnh đặc sắc gợi cảm.

2. Tác phẩm

a. Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ Sang Thu đư­ợc viết cuối năm 1977(Những suy nghĩ của người lính từng trải qua một thời trận mạc và cuộc sống khó khăn sau ngày đất nước thống nhất: Thiên nhiên bắt đầu sang thu – Đất nước vừa bước từ chiến tranh sang hoà bình (1977)) in trong tập thơ " Từ chiến hào đến thành phố " Nhà xuất bản Hà Nội-1991.

b. Thể loại: Thể thơ năm chữ, toàn bài có 3 khổ, mỗi khổ 4 câu, ít vần: khổ 1 vần (e), vần cách; khổ 2 vần (a), vần liền; khổ 3 không có vần

c. Bố cục: Sang thu là một bài thơ trữ tình, cả bài là những quan sát, cảm nhận của tác giả về thiên nhiên vào thu – từng khổ đều nối tiếp nhau bộc lộ cảm xúc ấy. Bố cục chúng ta chia làm 3 phần tương ứng với 3 khổ:

Phần1:(Khổ thơ đầu): Tín hiệu sang thu.

Phần 2: (Khổ thơ 2): Đất trời sang thu.

Phần 3: (Khổ thứ 3): Biến đổi của cảnh vật sang thu.

Soạn bài Sang thu của Hữu Thỉnh

II- Phân tích: 

1. Cảm nhận về thiên nhiên sang thu

* Khổ 1:

Bỗng nhận ra h­ương ổi

Phả vào trong gió se

Sư­ơng chùng chình qua ngõ

Hình như­ thu đã về

– Thiên nhiên chuyển mình sang thu được bắt đầu từ những tín hiệu như hương ổi phả, gió se, sương chùng chình. Nhà thơ cảm nhận thiên nhiên chuyển mình sang thu từ các giác quan: khứu giác, xúc giác, thị giác. Tất cả các giác quan như: khứu giác (mùi hương ổi), xúc giác (gió se), thị giác (sương chùng chình) đều mách bảo thu về. Hương ổi lan vào không gian phả vào gió se. Sương đầu thu giăng mắc nhẹ nhàng chuyển động chầm chậm nơi đầu thôn ngõ xóm

– Từ "phả" có thể thay bằng từ "thổi” hoặc  “bay" nhưng các từ ấy không có ý nghĩa đột ngột, bất ngờ như­ từ "phả". Một chữ “phả” kia đủ gợi hương thơm như sánh lại. Nó sánh bởi vì hương đậm một phần, sánh còn bởi tại hơi gió se. Hương thơm luồn vào trong gió được tinh lọc, được cô đặc thêm. Gió mùa thu hào phóng đem chia hương mùa thu bấy giờ là hương ổi chín tới khắp nơi.

– Sương chùng chình: Chùng chình là cố ý chậm lại. Ở đây nhà thơ sử dụng phép nhân hoá. "chùng chình" là từ láy gợi hình, tác giả nhân hoá làn sư­ơng bay qua ngõ nhà có vẻ như­ chậm hơn đây là những dấu hiệu đặc tr­ưng của mùa thu đến.

– Từ "bỗng" thể hiện sự đột ngột, bất ngờ; từ "hình như­" thể hiện sự ngỡ ngàng, cảm xúc bâng khuâng. Phút giây giao mùa của thiên nhiên ấy tác giả cảm nhận đ­ược như­ng vẫn có tâm trạng ngỡ ngàng. Mùa thu sang ở đây còn bộc lộ nét sang thu trong hồn ng­ười.

=> Bức tranh giao mùa nồng nàn hơi ấm làng quê trong cảm nhận ngỡ ngàng của tác giả.

* Khổ 2:

Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã

Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu

– Đây là 2 hình ảnh đối lập, với 2 từ láy và biện pháp nhân hoá. Dòng sông trôi một cách thanh thản gợi lên vẻ êm dịu của bức tranh thiên nhiên, ngược lại những cánh chim bắt đầu vội vã ở buổi hoàng hôn. 

Ở khổ 2 thiên nhiên được quan sát ở một không gian rộng lớn hơn, nhiều tầng bậc hơn. Bức tranh thu từ những gì vô hình (hương, gió), từ nhỏ hẹp (ngõ) chuyển sang những nét hữu hình, cụ thể (sông, chim, mây) với một không gian vừa dài rộng, vừa cao vời. Người đọc thích thú với cấu trúc đối tụ nhiên chặt chẽ và tuyệt vời như trong thơ cổ:

Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã

Dòng sông không cuồn cuộn dữ dội và gấp gáp như trong những ngày mưa lũ mùa hạ. Sông êm ả, dềnh dàng sông đang lắng lại, đang trầm xuống trong lững lờ như ngẫm nghĩ suy tư. Tương phản với sông chim lại bắt đầu vội vã. Hơi thu lạnh làm cho chúng phải khẩn trương chuẩn bị cho chuyến bay tránh rét. Trong khi từ “vội vã” đối rất đẹp với từ “dềnh dàng” thì ta cũng cần chú ý từ “bắt đầu” rất độc đáo ở đây. Bắt đầu vội vã thôi chứ chưa phải là đang vội vã. Phải tinh tế lắm mới có thể nhận ra sự bắt đầu này trong những cánh chim bay.

Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu

Đây là một hình ảnh đẹp đặc sắc của bài thơ với sự liên tưởng hư ảo bay bổng. Dù có sự vội vã của chim (cái vội vã mới chớm, mới bắt đầu) không khí thu vẫn là không khí thư thái, lắng đọng, chậm rãi, lâng lâng. Vì thế mà đám mây mùa hạ mới thảnh thơi duyên dáng vắt nửa mình sang thu. “Đám mây mùa hạ vắt nửa mình sang thu" là một liên t­ưởng sáng tạo, thú vị, chính hình ảnh mùa thu nối mùa hạ bởi những đám mây lững lờ cũng dềnh dàng, chùng chình trên tầng không làm cho ng­ười đọc cảm nhận được cả không gian và thời gian chuyển mùa thật đẹp.Đám mây như một dải lụa, như một tấm khăn voan của người thiếu nữ trên bầu trời nửa đang còn là mùa hạ, nửa đã nghiêng về mùa thu. Nếu ở khổ thơ thứ nhất, còn phải có một cái ngõ thực cho sương đi qua để gợi đến cái ngõ ảo nối giữa hai mùa, thì ở đây chỉ cần một áng mây bâng khuâng mà có thể thấy bầu trời đang nhuốm nửa sắc thu. Hình ảnh mây là thực, nhưng cái ranh giới mùa là hư. Nó chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng lạ lùng của nhà thơ. Bầu trời một nửa thu. Đám mây mùa hạ đang nhuốm sắc thu. Đến một lúc nào đó nó bỗng ngỡ ngàng thấy đang bồng bềnh trong bầu trời thu trọn vẹn.

=> Ở khổ thơ thứ 2 ta thấy Đất trời biến chuyển sang thu nhẹ nhàng mà rõ rệt.

* Khổ 3: 

Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa

Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi

– Hai khổ thơ đầu rất đẹp về mặt tạo hình, rất tinh tế trong cảm nhận, như 2 cành biếc  của một cây thơ lạ. Nhưng khổ thơ thứ 3 là cái gốc của cây thơ đó là nơi cho 2 nhánh thơ trên tựa vào để khoe sắc, toả hương. Khổ thơ thứ 3 đem đến cho bài thơ 1 vẻ đẹp mới, làm trọn vẹn thêm cái ý sang thu của hồn người chưa thật rõ ở 2 khổ thơ trên.

– Dấu hiệu mùa hạ vẫn còn ở khổ thơ 3 nhưng mức độ đã thay đổi: 

Nắng     –   mưa   –  sấm   –   hàng cây

Vẫn còn – đã với – cũng bớt – đứng tuổi

Hạ nhạt dần, thu đậm hơn. Những hình ảnh miêu tả thực về thiên nhiên, sử dụng tính từ chỉ mức độ giúp ta hiểu nắng cuối hạ vẫn còn nồng, còn sáng nhưng nhạt dần; những ngày giao mùa này đã ít đi những cơn mưa rào ào ạt, bất ngờ gắn với những tiếng sấm cũng bất ngờ của những cơn mưa mùa hạ . Nhà thơ miêu tả thiên nhiên bằng thị giác, thính giác.

=> Bức tranh thiên nhiên sang thu được cảm nhận:là một bức tranh thiên nhiên giao mùa tuyệt đẹp. Nhà thơ đã cảm nhận tinh tế mà sâu sắc. Qua đó thể hiện tình yêu thiết tha của tác giả với quê hương đất nước.

Soạn bài Sang thu của Hữu Thỉnh

2. Những suy ngẫm của nhà thơ.

Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi

– Tả thực: Sấm và hàng cây lúc sang thu

– Ý nghĩa ẩn dụ: Sấm: vang động bất thường của ngoại cảnh của cuộc đời

Hàng cây đứng tuổi: con người từng trải

Về hai dòng thơ cuối cần hiểu với 2 tầng nghĩa: Lúc sang thu, bớt đi những tiếng sấm bất ngờ. Cũng có thể hiểu rằng: hàng cây không còn bị bất ngờ, bị giật mình vì tiếng sấm nữa. Chính nhà thơ Hữu Thỉnh tâm sự: Với hình ảnh có giá trị tả thực về hiện tượng thiên nhiên này, ông muốn gửi gắm suy ngẫm của mình – khi con người từng trải thì cũng vững vàng hơn trước những tác động bất thường của ngoại cảnh của cuộc đời.

 Có thể nói thiên nhiên sang thu vừa bao trùm lại vừa thấm vào từng cảnh vật: hương quả sang thu, ngọn gió sang thu. Dòng sông, đám mây, bầy chim, bầu trời, mưa, sấm, chớp, cây cối …Nhưng nét mới trong thơ Hữu Thỉnh là từ cảnh sang thu của thiên nhên đất trời là hồn người sang thu và lưu luyến bồi hồi vừa bâng khuâng sâu lắng.

III- Tổng kết:

– Nghệ thuật:  Thể thơ năm chữ, bài thơ ngắn nhưng có nhiều hình ảnh đặc sắc, sử dụng sáng tạo phép nhân hoá, ẩn dụ.

– Nội dung:  Tác giả miêu tả miêu tả cảnh đất trời chuyển mùa từ hạ sang thu- đất trời có những chuyển biến nhẹ nhàng mà rõ rệt, mang nét riêng về thời điểm giao mùa hạ – thu ở vùng nông thôn đồng bằng Bắc bộ .

IV- Luyện tập:

– Bài Tiếng thu (Lưu trọng Lư)

  Em không nghe rừng thu

  Lá thu kêu xào xạc

  Con nai vàng ngơ ngác

  Đạp trên lá vàng khô

– Bài Mùa thu vàng sáng (Xuân diệu)

  Mùa thu vàng sáng tới rồi đây

  áo trắng em phơi gió thổi đầy

  áo trắng hai tà phơi phất hoá

  áo vàng em mặc cánh thu bay

>>> XEM THÊM : 

Spread the love
Loading...

Check Also

phân tích chân dung tinh thần Hồ Chí Minh trong Chiều tối và Lai Tân

Phân tích chân dung tinh thần Hồ Chí Minh trong Chiều tối và Lai Tân | Văn mâu

(Văn mẫu lớp 11) – Em hãy phân tích chân dung tinh thần Hồ Chí Minh …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *