Home / SOẠN VĂN / Soạn văn lớp 9 / Soạn bài Kiều ở lầu Ngưng Bích (trích Truyện kiều) của Nguyễn Du

Soạn bài Kiều ở lầu Ngưng Bích (trích Truyện kiều) của Nguyễn Du

    (Soạn văn lớp 9) – Em hãy soạn bài Kiều ở lầu Ngưng Bích (trích Truyện kiều) của Nguyễn Du (Bài làm của học sinh Lương Oanh)

Đề bài: Soạn bài Kiều ở lầu Ngưng Bích (trích Truyện kiều) của Nguyễn Du

                               BÀI LÀM:

I. GIỚI THIỆU CHUNG:

Loading...

1. Vị trí: Nằm ở phần II từ câu (1033-1054). Đoạn trích nằm ở phần thứ hai trong Truyện Kiều (Gia biến và lưu lạc). Gia đình Kiều gặp cơn nguy biến. Do thằng bán tơ vu oan, cha và em Kiều bị bắt giam. Để chuộc cha, Kiều quyết định bán mình. Tưởng gặp được nhà tử tế, ai dè bị bắt vào chốn lầu xanh, Kiều uất ức định tự tử. Tú Bà (chủ quán lầu xanh) vờ hứa hẹn gả chồng cho nàng, đem nàng ra giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, sau đó mụ sẽ nghĩ cách để bắt nàng phải tiếp khách làng chơi.

2. Bố cục:  Đoạn trích gồm hai mươi hai câu. Sáu câu thơ đầu thể hiện hoàn cảnh cô đơn, tội nghiệp của Thuý Kiều; tám câu thơ tiếp thể hiện nỗi thương nhớ của nàng về Kim Trọng và về cha mẹ; tám câu còn lại thể hiện tâm trạng đau buồn, âu lo của Thuý Kiều.

 

II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN:

1. Tâm trạng của Thúy Kiều khi ở lầu Ngưng Bích:

a. Kiều nhớ về Kim Trọng (Tưởng người..cho phai)

– Nhớ Kim Trọng, Kiều nhớ vềbuổi thề nguyền đính ước giữa chàng và nàng. Nàng tưởng tượng Kim Trọng đang nhớ về mình vô vọng. 

–  Kiều tự hỏi tấm lòng trong trắng, trinh bạch của Kiều bị vùi dập hoen ố biết bao giờ gột rửa được.Nhớ Kim Trọng với nỗi đau đớn xót xa, khẳng định lòng chung thuỷ son sắt.

* Nỗi lòng thương nhớ cha mẹ:

– Thương và xót cha mẹ

+ Sớm chiều tựa cửa trông con

+ Tuổi già sức yếu không người chăm sóc

– Thành ngữ, điển cố: “Quạt nồng ấp lạnh”, “Sân lai, gốc tử” thể hiện được nỗi lòng của Kiều dành cho cha mẹ già. Nàng xót xa, lo lắng cho cha mẹ khi giờ đây ngày đêm vẫn khoắc khoải cho đứa con thơ. 

– Trong cảnh ngộ ở lầu Ngưng Bích, Kiều là người đáng thương nhất nhưng nàng quên cảnh ngộ bản thân để nhớ thương, xót xa đến cha mẹ, người yêu. Điều đó chứng tỏ Kiều là một cô gái có tình, có nghĩa. Một cô gái đẹp người, đẹp nết. Hoàng Hương sinh ở đời Đông Hán năm 9 tuổi mẹ chết, ông khóc lóc thảm thiết trong làng ai cũng khen có hiếu. Ở với cha sớm hôm hầu hạ mùa đông ông nằm vào chăn trước ủ ấm, mùa hè quạt mát cho cha ngủ. Quan Thái thú quận ấy làm sớ tấu lên vua ban cho biển vàng “Người con hiếu hạnh” và có thơ đề tặng:

                     Đông thì nằm ấm ủ chăn

          Hè thì quạt mát mọi phần nồng oi

                     Trẻ thơ đã biết hiếu rồi

               Nghìn thu chỉ có một người không hai                                                                                                         

Trong hoàn cảnh đáng thương, nỗi nhớ của Kiều đi liền với tình thương – một biểu hiện của đức hi sinh, lòng vị tha, chung thủy, sắt son rất đáng quý ở nhân vật

2. Hai bức tranh thiên nhiên trước lầu Ngưng Bích trong cảm nhận của Thúy Kiều:

a. Bức tranh thứ nhất:( Bốn câu thơ đầu)

– Cảnh vật : + non xa, trăng gần

                    + bốn bề bát ngát

                    + cát vàng bụi hồng

-> Không gian rộng lớn, rợn ngợp, cảnh vật trơ trọi, con người càng lẻ loi. Bốn câu thơ đầu phản chiếu tâm trạng, suy nghĩ của nàng Kiều: cảnh vật ở lầu Ngưng Bích  hiện ra bao la, hoang vắng. Kiều  rơi vào cảnh cô đơn, cô độc hoàn toàn giữa không gian mênh mông ,xa lạ và cách biệt. Thời gian: “Mây sớm đèn khuya” diến tả sự tuần  hoàn khép kín: Kiều bị giam hãm, cô đơn ngày đêm thui thủi quê người một thân. Không gian rộng lớn, hoang vắng, cảnh vật trơ trọi, lầu Ngưng Bích chơ vơ, con người càng lẻ loi.

=> Bức tranh thứ nhất phản chiếu tâm trạng, suy nghĩ của nàng Kiều: cảnh vật ở lầu Ngưng Bích  hiện ra bao la, hoang vắng rơi vào cảnh cô đơn, xa lạ và cách biệt.

2. Bức tranh thứ hai :( tám câu thơ cuối)

– Mỗi cặp câu là  một nỗi nhớ, nỗi buồn

             “ Buồn trông cửa bể chiều hôm

         Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa”

-> Thân phận bơ vơ nơi đất khách, quê người

           “Buồn trông ngọn nước mới sa

         Hoa trôi man mác biết là về đâu?”

->Số phận chìm nổi long đong, vô định

           “Buồn trông nội cỏ rầu rầu

    Chân mây mặt đất một màu xanh xanh ”

-> Nỗi đau tê tái ,héo úa cõi lòng.

              “Buồn trong gió cuốn mặt duềnh

       Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

 -> Nỗi lo âu sợ hãi, bế tắc, tuyệt vọng

=> Tả cảnh ngụ tình, mỗi hình ảnh thiên nhiên đồng thời là một ẩn dụ về tâm trạng và số phận con người: cánh buồm là  nỗi buồn da diết về quê nhà xa cách; “ hoa trôi man mác” là  nỗi buồn về số phận lênh đênh vô định ; ” Nội cỏ rầu rầu” giữa ” chân mây mặt đất” là nỗi bi thương vô vọng, kéo dài không biết đến bao giờ; “gió cuốn mặt duềnh”, ” ầm ầm tiếng sóng” là  tâm trạng hãi hùng, lo lắng trước những tai hoạ phía trước…). Điệp ngữ : ” Buồn trông”  tạo âm hưởng trầm buồn, điệp khúc của tâm trạng. Tác dụng nhằm diễn tả tâm trạng Kiều buồn cô đơn, xót xa, lo âu, sợ hãi , bế tắc, tuyệt vọng của Thúy Kiều.

III. TỔNG KẾT

1. Nghệ thuật:

– Miêu tả nội tâm nhân vật: diễn biến tâm trạng được thể hiện qua ngôn ngữ độc thoại và tả cảnh ngụ tình đặc sắc

– Lựa chọn từ ngữ, sử dụng các biện pháp tu từ.

2. Ý nghĩa văn bản:

Đoạn trích thể hiện tâm trạng cô đơn, buồn tủi và tấm lòng thủy chung, hiếu thảo của Thúy Kiều

Spread the love
Loading...

Check Also

phân tích chân dung tinh thần Hồ Chí Minh trong Chiều tối và Lai Tân

Phân tích chân dung tinh thần Hồ Chí Minh trong Chiều tối và Lai Tân

(Văn mẫu lớp 11) – Em hãy phân tích chân dung tinh thần Hồ Chí Minh …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *