Home / SOẠN VĂN / Soạn văn lớp 9 / Soạn bài chị em thúy kiều của Nguyễn Du | Làm văn mẫu

Soạn bài chị em thúy kiều của Nguyễn Du | Làm văn mẫu

(Soạn văn lớp 9) – Em hãy soạn bài Chị em Thúy Kiều của Nguyễn Du

(Bài làm của học sinh Hương Thủy)

Đề bài: Soạn bài Chị em Thúy Kiều của Nguyễn Du

BÀI LÀM:

I. TÌM HIỂU CHUNG

Loading...

1. Vị trí đoạn trích

– Nằm ở phần mở đầu Truyện Kiều, giới thiệu gia cảnh nhà Vương viên ngoại. Sau 4 câu thơ nói về gia đình họ Vương (bậc trung lưu, con trai út là Vương Quan), tác giả dành 24 câu thơ nói về Thúy Vân, Thúy Kiều (từ câu 15-38).

2. Bố cục:

– 4 câu đầu : Giới thiệu khái quát hai chị em Thuý Kiều.

– 4 câu tiếp: Gợi tả vẻ đẹp Thuý Vân.

– 12 câu tiếp: Gợi tả vẻ đẹp Thúy Kiều.

– 4 câu cuối: Nhận xét chung về cuộc sống của 2 chị em

->  Đoạn trích có  bố cục hợp lý, cân đối, rõ ràng, rành mạch. Từ giới thiệu chung nhà thơ đi giới thiệu, miêu tả riêng từng nhân vật. Chân dung, tài và sắc của cô chị được tác giả dành nhiều lời thơ hơn vì Thúy Kiều là nhân vật chính của tác phẩm là tâm điểm của truyện. Thúy Vân được giới thiệu ở 4 câu thơ trước khi nhà thơ miêu tả về Kiều là để làm nền, đòn bẩy cho nhân vật Thúy Kiều.

Soạn bài chị em thúy kiều 

II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

1. Giới thiệu khái quát về hai chị em.

Đầu lòng hai ả tố nga,

Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân.

Mai cốt cách tuyết tinh thần,

Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.

– Tố nga :  ẩn dụ à chỉ hai ng­­ười con gái đẹp. Với cách nói này, nhà thơ đã chỉ hai nàng tiên trên cung Quảng theo truyền thuyết, nhằm nhấn mạnh vẻ đẹp của Thúy Vân và Thúy Kiều. Đó là những người nết na, đoan trang, xinh đẹp. 

– Thúy Vân và Thúy Kiều được ví von như mai và tuyết. Mai đẹp bởi mùi hương, hương sắc rực rỡ; tuyết đẹp bởi độ trắng trong, tinh khiết của nó. Vẻ đẹp về nhan sắc, cốt cách của hai chị em Thúy Kiều cũng như mai và tuyết, thanh cao, trong trắng, thanh mảnh. Tác giả đã sử dụng biện pháp so sánh, ẩn dụ, và biện pháp ước lệ trong văn học cổ. Bên cạnh đó nhà thơ còn sử dụng thành ngữ: "mười phân vẹn mười", gợi vẻ đẹp hoàn hảo của hai chị em. 

=> Như vậy hai câu thơ đầu vừa giới thiệu thứ bậc của hai chị em vừa đánh giá chung bằng  hình ảnh ẩn dụ: hai ả tố nga có vẻ đẹp trong trắng ,duyên dáng thanh cao như hai nàng tiên trên cung Quảng…Hai câu sau với bút pháp ước lệ, hình ảnh so sánh ẩn dụ Nguyễn Du đó lấy cây mai để chỉ dáng người thanh mảnh,hình ảnh tuyết để chỉ tâm hồn tính cách trong sáng gợi tả vẻ đẹp thanh cao của hai chị em. Mỗi người đều có vẻ đẹp riêng nhưng đều đẹp hoàn mĩ.

2. Vẻ đẹp của Thuý Vân

Vân xem trang trọng khác vời,

Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang. 

– Thúy Vân có vẻ đẹp cao sang, quý phái, đầy đặn, cân đối, đường nét rõ ràng. Đó là một vẻ đẹp khác vời tức là đã hơn người khác. Vẻ đẹp của Thúy Vân được so sánh như hoa, như ngọc. Điệu cười tươi như hoa, lời nói thì đoan trang phúc hậu như ngọc. Mái tóc của Vân mềm mượt hơn mây, làn da trắng mịn hơn tuyết. Nhà văn đã sử dụng thành công biện pháp nghệ thuật ước lệ:

Hoa cười ngọc thốt đoan trang,

Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.

– Các tính từ, động từ: trang trọng khác vời, đầy đặn, nở nang, (mây) thua, (tuyết) nhường đã vẽ ra chân dung Thuý Vân. Gợi ra cả tính cách con người và báo trước 1 số phận bình yên, 1 cuộc đời êm ả, bình lặng, suôn sẻ.  Với bốn câu thơ ngắn gọn vẫn là bút pháp ước lệ tượng trưng dùng hình tượng thiên nhiên đẹp :Trăng, hoa, tuyết, ngọc để nói về vẻ đẹp con người Nguyễn Du đó vẽ lên bức chân dung Thúy vân với vẻ đẹp trang trọng, phúc hậu ít ai có được khiến cho thiên nhiên phải qui phục, phải chịu thua, chịu nhường… sẽ dự báo một cuộc sống yên ả, bình lặng không sóng gió…

3. Vẻ đẹp của Thuý Kiều

Làn thu thuỷ nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh

       Một hai nghiêng nước nghiêng thành

Sắc đành đòi một tài đành hoạ hai"

– Biện pháp nghệ thuật so sánh, gợi tả vẻ đẹp của một giai nhân tuyệt thế. Làn thu thuỷ: gợi tả vẻ đẹp trong sáng, long lanh và sâu thẳm của đôi mắt. Nét xuân sơn – gợi lên đôi lông mày thanh tú, trên gương mặt trẻ trung. Vẻ đẹp của Kiều là hơn hẳn cô em Thúy Vân của mình.

-Vẻ đẹp của Kiều là sự kết hợp của cả sắc – tài – tình: Tài của Kiều là cái tài toàn diện, gồm đủ cả thi, hoạ, ca, ngâm

=> Chân dung Thuý Kiều cũng mang tính cách số phận. Vẻ đẹp của Kiều làm cho tạo hoá phải ghen ghét, các vẻ đẹp khác phải đố kị – "hoa ghen", "liễu hờn", tâm hồn đa sầu đa cảm phổ vào tiếng đàn trong "thiên bạc mệnh"- báo hiệu cho 1 cuộc đời trầm luân, 1 kiếp người mệnh bạc, số phận nàng sẽ éo le, đau khổ, không yên bình. Và sau điều điều đó đã được kiểm chứng bằng 15 năm lưu lạc của Kiều.

Soạn bài chị em thúy kiều 

III. TỔNG KẾT

1. Cảm hứng nhân đạo của NDu.

– Đề cao giá trị con người, nhân phẩm, tài năng, khát vọng, ý thức về thân phận cá nhân.

– Nguyễn Du trân trọng cái đẹp đồng thời lo lắng cho số phận của những con người tài hoa nhan sắc -> tấm lòng nhân đạo bao la của đại thi hào Nguyễn Du.

2. Nghệ thuật :

– Bút pháp ước lệ, ẩn dụ, so sánh.

– Tả khái quát -> tả chi tiết, cụ thể về nhân vật.

– Bút pháp : phương pháp đòn bẩy. Có sự kết hợp giữa yếu tố tự sự + miêu tả.

>>> XEM THÊM : 

Spread the love
Loading...

Check Also

phân tích chân dung tinh thần Hồ Chí Minh trong Chiều tối và Lai Tân

Phân tích chân dung tinh thần Hồ Chí Minh trong Chiều tối và Lai Tân | Văn mâu

(Văn mẫu lớp 11) – Em hãy phân tích chân dung tinh thần Hồ Chí Minh …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *