Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 12 / Phân tích giá trị hiện thực trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài | Văn mẫu

Phân tích giá trị hiện thực trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài | Văn mẫu

(Văn mẫu lớp 12) – Em hãy phân tích giá trị hiện thực trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài 

(Bài làm của học sinh Gia Hân)

Đề bài: Phân tích giá trị hiện thực trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài

BÀI LÀM

     Vợ chồng A Phủ tập trung khắc họa hai nhân vật chính là Mị và A Phủ. Trong đó, Mị là nhân vật trung tâm, là linh hồn của truyện. Mở đầu tác phẩm, người đọc bị thu hút bởi hình dàng thơi buồn của người con gái ngồi quay sợi bên tảng đá trước cửa cạnh tàu ngựa. Đó là Mị – cô con dâu của nhà thống lí Pá Tra – một chúa đất đầy quyền thế. Thông qua nhân vật Mị và A Phủ, người đồng hành trong thảm cảnh nô lệ với Mị, Tô Hoài tái hiện chân dung cuộc sống của những con người thấp cổ bé họng trong xã hội cũ. Đó chính là giá trị hiện thực của tác phẩm.

Loading...

       Giá trị hiện thực của tác phẩm trước hết được thể hiện qua việc phản ánh nỗi thống khổ của đồng bào Tây Bắc và lên án chế độ phong kiến thực dân.

      Câu chuyện xoay quanh nhân vật Mị. Mị là cô gái trẻ, đẹp đang ở độ tuổi thanh xuân, yêu đời… Mở đầu tác phẩm, tác giả tạo sự chú ý cho độc giả bằng cách để cho Mị xuất hiện tron gdáng vẻ của nỗi cùng quẫn bi thương của kiếp người: "Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy có một cô con gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợ, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi".

  phân tích giá trị hiện thực trong tác phẩm vợ chồng a phủ

       Chuyện bắt đầu từ ngày Mị lớn lên và trở thành một cô gái xinh đẹp. Vì nhan sắc mà Mị lọt vào mắt của A Sử – con trai của thống lí Pá Tra – mọt kẻ có quyền thế bậc nhất ở Hồng Ngài. Thế là Mị đã trở thành một món hàng trừ nợ. Thân phận của con người lao động trong xã hội cũ mịt mùng không lối thoát

      Theo tục lệ, chao mẹ Mị không có tiền cưới phải đến vay nhà thống lí Pá Tra, mỗi năm trả lãi một nương ngô. Đến khi mẹ mất, cha già mà nợ vẫn còn. Tuy cha Mị không chấp thuận lời đề nghị của thống lí đổi Mị để trừ nợ, nhưng Mị vẫn bị A Sử cướp về làm dâu để trừ nợ. Hành động này tố cao sự vô nhân đạo của những kẻ nắm quyên flực thời đó. Xã hội đốn mạt đã làm cho chúng có sức mạnh để chúng tác oai tác quái trên số phận người dân nghèo.

        Hình thức bóc lột của bọn chúa đất phong kiến là cho vay nặng lãi để cột chặt kiếp nô lệ của người nông dân miền núi. Kèm theo việc cho vay đó là tục lệ trình cúng ma. Khi người dân ngu muội tin vào chuyện ma quái đó thì bọn giàu có độc ác càng có cơ hội nô dịch họ. Một sự thật đau lòng diễn ra không hề cá biệt là khi ai đó liều mình đi vay nợ thì vĩnh viễn số phận họ và cả số phận đời con đời cháu họ cũng không thể thoát được kiếp ngựa trâu cho bọn nhà giàu đó. Chính xã hội thực dân nửa phong kiến trao cho bọn chúng cái quyền phi lí đó.

       Mị không dám phản ứng vì về đạo lí đấy là món nợ mà Mị phải trả như một cái án truyền kiếp mà cô phải gánh lấy từ trong trứng nước. Về phương diện thần quyền, Mị còn bị bọn thống trị ràng buộc, áp chế bởi những hủ tục mê tín. Nghĩ rằng bố con Pá Tra "trình ma" mình là người của nhà nó thì Mị chỉ còn biết làm thân trâu ngựa cho nhà chúng mãi tới lúc chết mà thôi.

       Bước chân về, đúng hơn là bị cưỡng bức về nhà thống lí Pá Tra. Mị bị đày đọa cả về thể xác lẫn tinh thần. Là con dâu chỉ trên danh nghĩa, thực chất Mị chỉ là tôi tớ, người suốt ngày quần quật làm ra của cải vật chất cho nhà thống lí. Thân Mị, cũng như nhiều phụ nữ khác trong gia đình ấy, không bằng thân trâu, ngựa: "con ngựa, con trâu làm có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày". Dĩ nhiên, đấy chỉ là thân phận của những người phụ nữ như Mị, những người bị cha con nhà Pá Tra bắt về "cúng ma".

       Nỗi đau vật chất tuy đã rất khủng khiếp, nhưng nỗi đáu về mặt tinh thàn lại càng khủng khiếp hơn. Nhà văn vô cùng xót xa trước nỗi khổ tinh thần của Mị. Mị không biết đến hạnh phúc, cái hạnh phúc mà lẽ ra Mị đã có quyền hưởng với người Mị yêu như bao cô gái xinh đẹp khác. Mị không được biết đến khung cảnh tươi tắn của cuộc sống bình yên bên ngoài, dẫu chỉ là mọt niềm vui bé nhỏ. Mị không hề có ý thức về thế giới thực tại, không hềnghĩ đến tương lai.

       Cuộc sống của Mị dần dần buông xuôi theo số phận. Vô thức về thời gian, không biết bị bắt làm dâu từ năm nào, vô thức về cả không gian: "cái buồng Mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng". Một không gian đóng kín, bưng bít, giam hãm sự sống chính đáng của con người. Căn buồng ấy là biểu tượng cho cả hiện tại và tương lai bế tắc của Mị. Nó không chỉ giam cầm thân xác Mị, ma còn đày đọa về tinh thần Mị với cuộc đời,nó tù hãm tuổi thanh xuân và sức sống của cô: "Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi". Nỗi thống khổ của Mị  là biểu tượng cho nỗi thống khổ của mọi người phụ nữ Việt Nam miền núi trong xã hội cũ. Phát hiện ra điều này, đồng nghĩa với việc nhà văn đứng về phía những thân phận cơ hàn ấy để nói lên tiếng nói đòi quyền sống chính đáng của con người.

        Cũng như Mị, cuộc đời A Phủ điển hình cho nỗi khổ của người đàn ông miền núi. Yêu chuộng tự do và lẽ công bằng, A Phủ đahs A Sử khi hắn có hành vi ngang ngược. Nhưng ngay lập tức A Phủ phải đối diện với một kết cục bi thảm, cái kết của một chân lí quái gở: chân lí thuộc về kẻ mạnh. A Phủ bị trói, bị đánh, bị phạt vạ 100 đồng bạc trắng chỉ vì tội đánh con nhà quan. Đấy là cả khối tài sản lớn. Món nợ đó, cũng như nợ của bố mẹ Mị là tiền đề cho sự nô dịch mà thống lí Pá Tra áp đặt lên anh. Không có tiền, ảnh phải đi ở cho nhà thống lí. Còn cách nào khác đâu. Từ đó, A Phủ bước vào địa hạt của cái nợ truyền kiếp.

      Kèm theo nghi thức vay nợ lạ lẫm đó là nghi thức cúng ma lạ đời mà đã từng ràng buộc Mị: "A PHủ cúi sờ lên đồng bạc trên tráp, trong khi Pá Tra đốt hương lầm rầm khấn gọi ma về nhận mặt người vay nợ. Pá Tra khấn xong, A Phủ cũng nhặt xong bạc" rồi đặt xuống, Pá Tra lại trút chỗ bạc ấy vào lại tráp. Sự ràng buộc bằng thần quyền kết với quân quyền độc đoán là phương thức hữu hiệu để giai cấp thống trị nô dịch tàn hại dân nghèo.

      Đi ở trừ nợ cho nhà thống lí, cuộc sống tự do của A Phủ chất dứt. A Phủ phải làm quần quật ở ngoài rừng. Cuộc sống nô lệ đó được đẩy lên đỉnh điểm khi chàng làm mất một con bò. Pá Tra không cho anh cơ hội chuộc lỗi lầm. A Phủ bị trói, bị đánh, bị bỏ đói, bỏ đói mấy ngày liền chờ chết chỉ vì làm mất một con bò. Sức tố cáo tội ác của bọn cường hào tập trung nhất ở chi tiết này. Thân phận con người trong mắt chúng không bằng thân phận của một con vật. Ở đây, có sự so sánh tương đồng giữa Mị và A Phủ. Hai mảnh đời bị đẩy vào nhà thống lí Pá Tra không được xem như là những con người bình thường nữa. Họ ở dưới mức người. Họ không được đối xử như một con người. Sự chà đạp lên nhân quyền con người quả là hết chỗ nói.

phân tích giá trị hiện thực trong tác phẩm vợ chồng a phủ

       Hình phạt mà thống lí dành cho A Phủ chẳng khác gì cách thức phạt phạm nhân thời trung cổ. Tự tay A Phủ phải đóng cọc gỗ xuống bên cột. Pá tra vẫn đứng đấy, bấy giờ đẩy chàng vào chân cột, hai bàn tay  bắt ôm quặt lên. Rồi dây mây quấn từ chân lên vai, chỉ còn cái cổ và đầu hơi lúc lắc được. Đàn bà trong nhà, mỗi khi qua đều phải cúi mặt. Không một ai dám hỏi, cũng không ai dám nhìn ngang mặt.

       A Phủ tựa như một hình nhân. Sự độc ác của Pá Tra quả thật không thể diễn tả nên lời. Hắn không giết ngay mà để cái chết từ từ. Một cái chết khủng khiếp dành cho bất kì ai phạm lỗi với hắn.

        Giống Mị, nỗi đau của A Phủ cũng gồm cả thể xác lẫn tinh thần. Từ góc độ này, Mị và A Phủ là cặp nhân vật đồng cảnh ngộ. Dưới sự áp bức của gia đình thống lí, Mị tê liệt sức phản kháng vì ở lâu trong cái khổ thì A Phủ cũng vậy. Từ một chàng trai ngang tàng, khỏe khoắn như núi rừng, không chịu khuất phục trước cường quyền, A Phủ đã trở thành một con người chỉ biết cam tâm chịu đựng. Anh như con trâu, con ngựa đã bị đóng cương, không dám trái lời chủ.

       Tội ác của những kẻ cầm quyền ở đây là làm thui chột đi khát vọng sống, ý thức làm người của cả Mị và A Phủ. Sự tố cáo tội ác của chế độ mà điển hình là cha con thống lí Pá Tra hiện lên cụ thể và trực tiếp. Dưới sự bạo hành của chúng, những mảnh đời lương thiện bị vùi lấp. Cuộc sống con người trở thành nỗi đày đọa, thành địa ngục trần gian mà con người không thể nào thoát ra được.

>>> XEM THÊM : 

 

Spread the love
Loading...

Check Also

tóm tắt cốt truyện kịch hồn trương ba da hàng thịt

Tóm tắt và nhận xét về cốt truyện kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ

(Văn mẫu lớp 12) – Em hãy tóm tắt và nhận xét về cốt truyện kịch Hồn …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *