Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 11 / Phân tích cái tôi trữ tình trong bài thơ tràng giang | Làm văn mẫu

Phân tích cái tôi trữ tình trong bài thơ tràng giang | Làm văn mẫu

(Văn mẫu lớp 11) – Em hãy phân tích cái tôi trữ tình trong bài thơ Tràng Giang

(Bài làm của học sinh Văn Anh)

Đề bàiPhân tích cái tôi trữ tình trong bài thơ Tràng Giang

BÀI LÀM

      Nhà phê bình Hoài Thanh đã từng gọi nhà thơ Huy Cận là: “Người gọi dậy cái hồn buồn của Đông Á. Người khơi dậy cái mạch sầu mấy ngàn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này”. Thực đúng vậy, Huy Cận đã bước vào thi đàn bằng một tâm hồn đa sầu, đa cảm như thế. Và cái tôi ấy đã theo suốt thi nhân trong chặng đường sáng tác thơ ca trước Cách mạng. Nhưng chỉ cần qua Tràng giang bài thơ hay và nổi tiếng nhất, in trong tập “Lửa thiêng” (1940) cái tôi trữ tình của nhà thơ Huy Cận đã được thể hiện đầy đủ và đúng nghĩa nhất.

Loading...

      Thơ Huy Cận mang nỗi sầu thuần thúy từ trong nội tâm và bộc lộ ra từng vần thơ, con chữ. Tràng Giang bài thơ bao quát chỉ có nỗi sầu. Sầu trước thiên nhiên. Sầu cho thân phận con người cô đơn lẻ loi. Sầu, nỗi sầu nhân thế khi mà thanh niên yêu nước lúc bấy giờ vẫn chưa phương hướng đấu tranh cho mình dược vạch ra một cách rõ ràng. Dễ nhận thấy, cái tôi trữ tình trong bài thơ Tràng giang là một cái tôi đầy buồn bã, cô đơn, lạc lõng. Ngay từ lúc bài thơ ra đời, nguồn cảm hứng của nhà thơ xuất phát từ những cảm xúc ấy. Huy Cận không giấu nổi cảm giác buồn bã, cô đơn trước cảnh sóng nước sông Hồng mênh mang. Tràng Giang, nhan đề ngân vang liên âm đệu vang vọng từ nơi xa và man mác buồn, lan tỏa không gian.

phân tích cái tôi trữ tình trong bài thơ tràng giang

       Đầu tiên là nối sầu trước không gian, những sự vật nhỏ bé lênh đênh trên đường đời rộng lớn không thấy bến bờ.

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng.

       Cảnh sông nước rộng lớn bao phủ lấy những vật nhỏ bé, trong đó có con người – nhà thơ đang đứng ngắm. Đến con sóng trong đôi mắt nhà thơ trông thấy cũng buồn. Một nỗi buồn được miêu tả là “ điệp điệp” . Là nỗi buồn dã lặp đi lặp lại nhiều lần trong tâm trí nhà thơ cùng với đó nó như dung hòa trong con sóng dập dềnh mang nỗi buồn trải rộng lòng sông. Hình ảnh con thuyền nhỏ trong lòng sông gợi sự nhỏ bé trước thiên nhiên rộng lớn. Chiếc thuyền này xuôi mái nước song song. Thuyền không gắn kết với dòng sông mà lại chỉ song song cùng trôi chảy. Điều đó cho thấy sự xa cách, đơn độc, riêng biệt của từng sự vật xuất hiện trong khổ thơ. Dường như mỗi vật đều mang trong mình những tâm sự thầm kín riêng không muốn sẻ chia cùng ai. Cứ thế rồi nỗi buồn càng sâu đậm, càng thấm nhuần khung cảnh. Sự vật đều mang vẻ đơn côi, lạc lõng, đặc sắc nhất trong khổ thơ này là hình ảnh cành củi khô trôi dạt không phương hướng trên dòng sông. Câu thơ nguyên gốc nhà thơ viết “Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Câu thơ đảo ngữ nhấn mạnh vào âm vang từ “một cành” – số từ, lượng từ ít, nhỏ bé. Sự vật được miêu tả càng ngày càng bé dần còn nỗi sầu thì ngày một tăng thêm. Bâng khuâng sầu thẳm giữa đất trời, Huy Cận suy tư nhiều điều.

       Và rồi cho đến khổ thơ thứ hai, bức tranh tràng giang có thêm cảnh, thêm người nhưng nỗi buồn không vơi mà như càng thấm sâu vào cảnh vật. Tâm trạng của nhà thơ, cái tôi buồn bã càng bộ lộ một cách rõ nét.

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

        Có thể thấy rằng nỗi buồn được gợi lên từ mặt nước mênh mông, đôi bờ hoang vắng, từ một cồn nhỏ lơ thơ heo hút, dăm bụi cây phơ phất trong gió lạnh đìu hiu.Và lắng mình lại để có thể lắng nghe đâu đây, từ làn xa vẳng lại tiếng chợ chiều đang vãn, tuy có hơi hướng con người nhưng âm thanh dường như mong manh như mơ hồ như từ cõi nào vọng lại, làm dấy lên trong lòng lữ khách nỗi khát khao được gặp gỡ và chia sẻ tâm tình. Nhà thơ như đang kiếm tìm sự sống nơi hoang vu, lạnh lẽo chốn sông nước này. Thế nhưng buồn thay càng cố gắng tìm lại chẳng được gì. Nỗi buồn tình người thiếu thốn hiện rõ trong câu thơ “ Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”. “Nắng xuống chiều lên sâu chót vót” – lại một câu thơ đọc đáo mang chất Huy Cận. Người ta thường dùng cao chót vót, sâu thăm thẳm nhưng ở đây nhà thơ lại dùng từ “sâu chót vót”, liệu ở đâu có ẩn ý gì thú vị? Tất nhiên là có. Vị trí đứng ngắm cảnh của nhà thơ ở giữa đất và trời, câu thơ được viết ra đã mở rộng cho ta thấy được không gian đa chiều của bức tranh thiên nhiên. Chính vì thế mà nhà thơ khi ngắm nhìn đã thấy được cái chiều sâu của lòng sông, chiều cao của bầu trời in bóng xuống mặt sông nên đó có lẽ là lí giải thích hợp cho cụm từ độc đáo “sâu chót vót” của Huy Cận. Con người trở nên thật nhỏ bé trước thiên nhiên hùng vĩ. Sự cô độc lại bao bọc lấy nhà thơ khi tình người thiếu thốn mà còn choáng ngợp trước sự kì vĩ, lớn lao của tạo hóa.

      Nỗi sầu trước cảnh vật, nhân thế của Huy Cận mãi lan tỏa, nó tiếp nối từ khổ thơ này đến khổ thơ tiếp theo:

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

      Hình ảnh từng cụm bèo lững lờ trôi trên sông vô định không biết đời mình rồi sẽ đi đâu về đâu, trong bối cảnh không gian mênh mông sông nước trời biển bao la, thời gian là cảnh chiều tà, nhìn những đám bèo trôi vô định, không có phương hướng khiến cho nhà thơ cảm thấy nôn nao buồn. Một nỗi buồn nhân thế không biết tỏ bày cùng ai, chỉ có thể gửi gắm vào những câu thơ của riêng mình. Trong câu thơ “mênh mông” hai từ láy này gợi lên cho người đọc sự sầu muộn bao la, trước cảnh sông chiều nhưng không có một con đò nhỏ để qua sông, càng làm cho lòng người thêm buồn sâu sắc. Huy Cận còn miêu tả những thứ không có trong khung cảnh là chuyến đò ngang và câu cầu. Bởi lẽ nơi đây quá hoang vu mà không có sự sống của con người hoặc cũng có thể là rất thưa thớt. Chính vì thế mà Huy Cận tả cái không có càng làn nổi bật, nhấn mạnh ý thơ chỉ sự thiếu thốn, lạnh lẽo không hơi ấm tình thương giữa người với người nơi đây. Hồn thơ phiêu du lạc lõng trong cảnh sắc thiên nhiên thấm đẫm vị buồn.

      Khung cảnh thiên nhiên thể hiện như tâm trạng của nhà thơ Huy Cận lúc này đều gợi lên tâm trạng buồn. Giữa đất trời sông nước bao la không tìm được một người bạn tâm giao tri kỷ, không ai có thể hiểu nỗi lòng của tác giả, làm cho nỗi cô đơn cứ thế mà xô sóng ở trong lòng, con người cảm thấy mình thật bé nhỏ, bất lực trước cuộc sống hiện tại.

 Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.

phân tích cái tôi trữ tình trong bài thơ tràng giang

      Cánh chim chiều nghiêng bóng trước hoàng hôn, một cánh chim nhỏ nhoi lẻ loi trên bầu trời bao la rộng lớn, thể hiện sự cô liêu khắc khoải. Cánh chim chiều chao nghiêng kia phải chăng chính là hiện thân của tác giả lúc này, đang cảm thấy trào dâng nghiêng ngả những cơn sóng lòng. Cánh Chim nhỏ bé nghiêng nghiêng như gánh vác trên lung, trên đôi cánh cả một trời buồn sầu mà nặng trĩu, mỏi mệt. Thiên nhiên trong khổ thơ này gợi lên cho người đọc cảm giác buồn thê lương, não lòng, đúng như câu thơ của Nguyễn Du viết trong tác phẩm Truyện Kiều rằng: Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” để thể hiện sự cô đơn, lẻ loi buồn chán của tác giả trước thiên nhiên, cuộc đời. Huy Cận đã vô cùng tinh tế khi đặt cánh chim đối lập cô đơn với không gian bao la rộng lớn, mênh mông của đất trời, vũ trụ…

Lòng quê rờn rợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

       Trong hai câu thơ này thể hiện tâm trạng nhớ nhà nhớ quê hương của Huy Cận. Người xưa thường nhìn khói lam chiều gợi lên cảnh nhớ nhà, nhớ mùi khói bếp thơm ngai ngái để hướng tới quê hương, gia đình, hướng tới người thân thương nhất của mình. Nhưng Huy Cận viết “không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” thể hiện nỗi nhớ của ông là nỗi nhớ thường trực, nó luôn chứa đựng in sâu trong lòng , không cần phải có chất xúc tác là khói lam chiều mới nhớ. Từ tình yêu dành cho quê hương mà ta có thể mở rộng ra là tình yêu của Huy Cận dành cho đất nước cũng dào dạt như vậy.

     Tràng Giang bằng âm điệu thơ buồn thấm đẫm từng vần thơ, câu chữ đã làm nổi bật lên cái tôi trừ tình nhiều tâm trạng của một trái tim cô đơn nhưng lại luôn đau khi nhớ đến quê hương. Có thể nói rằng chính nỗi buồn sâu xa ấy đã hòa vào nỗi bơ vơ, cô độc trước khung cảnh thiên nhiên hoang vắng. Đúng như nhận xét của nhà thơ tình Xuân Diệu đã nói “Tràng giang là một bài thơ ca hát non sông đất nước, do đó dọn dường cho lòng yêu giang sơn, Tổ quốc”.

>>> XEM THÊM : 

Spread the love
Loading...

Check Also

bàn về bài thơ đây thôn vĩ dạ của hàn mặc tử

Bàn luận về ý kiến của Chu Văn Sơn về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ: “Người si mê thấy đó chỉ là tỏ tình, người vội vàng bảo rằng tả cảnh, người hôn ngoan thì làm một gạch nối: tình yêu – tình quê”.

(Văn mẫu lớp 11) – Em hãy nêu suy nghĩ về ý  kiến của Chu Văn …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *