Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 11 / Phân Tích Bài Thơ Tương Tư Của Nguyễn Bính | Văn Mẫu Lớp 11

Phân Tích Bài Thơ Tương Tư Của Nguyễn Bính | Văn Mẫu Lớp 11

(Văn mẫu lớp 11) – Em hãy phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính (Bài làm của học sinh Lư Thanh Lê)

Đề bàiPhân Tích Bài Thơ Tương Tư Của Nguyễn Bính.

BÀI LÀM

      Nguyễn Bính là nhà thơ nhạy cảm với thời đại đầy biến động, đặc biệt là sự xáo trộn của văn chương, ông thể hiện sâu sắc nỗi day dứt không yên của tâm hồn thiết tha với những giá trị cổ truyền đang có nguy cơ bị mai một. Vì thế, Nguyễn Bính đã đào sâu, tích hợp và phát huy một cách xuất sắc những  truyền thống dân gian trong sáng tạo Thơ mới. Thơ ông mang đậm chất quê, hồn quê trong cả nội dung và hình thức, là sự hòa quyện giữa giọng điệu quê, lối nói quê, lời quê. Ông thành công nhất ở thể thơ lục bát. Tương tư là một bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Nguyễn Bính.

     Nguyễn Bính sinh năm 1918, tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính, quê ở làng Thiện Vịnh, xã Đồng Đội (nay là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, trong một nhà nho nghèo. Mồ côi mẹ từ sớm, cha lấy vợ kế, Nguyễn Bính được cậu ruột nuôi. Lớn lên theo người anh trai là nhà thơ Trúc Đường ra Hà Nội kiếm sống. Nguyễn Bính lưu lạc ở nhiều nơi vừa dạy học, vừa làm thơ. Cách mạng tháng Tám thành công và kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, Nguyễn Bính hoạt động ở Nam Bộ với tên gọi Nguyễn Bính Thuyết. Ông làm công tác tuyên huấn văn nghệ. Năm 1954, Nguyễn Bính tập kết ra Bắc tiếp tục làm văn nghệ và báo chí ở Hà Nội, Nam Định. Ông mất đột ngột vào sáng 30 tết Ât Tị, tức 20 tháng giêng năm 1966. Ông được nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000.

phan tich bai tho tuong tu
Phân Tích Bài Thơ Tương Tư Của Nguyễn Bính | Văn Mẫu Lớp 11

      Nguyễn Bính làm thơ từ năm 13 tuổi. Năm 1937, ông đạt giải thưởng của Tự Lực văn đoàn với tập thơ Tâm hồn tôi. Các tập tiêu biểu: Lỡ bước sang ngang (1940), Mười hai bến nước (1942), truyện thơ Cây đàn tì bà (1944), Gửi người vợ miền Nam (1955), truyện thơ Tiếng trống đêm xuân (1958), Đêm sao sáng (1962) và vở chèo Cô Son (1961).

Loading...

      Bài thơ Tương tư được rút trong tập Lỡ bước sang ngang (1940), thuộc thể thơ lục bát dân gian (điệu nói). Bài thơ có ngôn ngữ và hình ảnh vừa hiện đại, vừa phảng phất hồn của ca dao ở giọng điệu, cách ví von, cách lựa chọn và tổ chức lời thơ, cách đưa khẩu ngữ nhuần nhuyễn. Kết cấu của bài cũng rất đặc sắc, lồng vào tâm trạng tương tư với những nỗi niềm tâm trạng phức tạp của chàng trai là bức tranh phong cảnh làng quê.

     Cũng như các nhà thơ mới lãng mạn cùng thời, Nguyễn Bính say mê với đề tài tình yêu. Nhưng tình yêu trong thơ ông có một dạng thức riêng, đi theo một lối riêng. Chúng ta hãy nghe mấy lời thơ mở đầu bài Tương tư:

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

Một người chín nhớ mười mong một người.

Gió mưa là bệnh của giời,

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

      Chủ thể trữ tình là chàng trai thôn Đoài đa tình. Người con trai đang yêu  này là người có huyết mạch sâu xa với làng mạc quê hương. Từng lời, từng chữ, cách nói, lối nói có dây mơ rễ má với thơ ca dân gian. Các cụm từ “ngồi nhớ”, “chín nhớ mười mong” gợi nhớ câu ca dao:

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi,

Như đứng đống lửa như ngồi đống than

      Nguyễn Bính thường hay cụ thể hóa cái trừu tượng của ca dao, cụ thể ra thành con số. Nhưng ông lại đặt trong một cấu trúc điêu luyện của riêng thơ ông: “Một người chín nhớ mười mong một người.”. Một người “đứng” ở đầu câu thơ, diễn tả sự xa cách, nhớ mong như vậy thật là độc đáo, thật là hay.

      Tâm trạng của người con trai yêu đơn phương cũng được mở ra trong không gian:

Gió mưa là bệnh của giời,

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

      Những câu thơ này đã đi vào lòng độc giả bao thế hệ. Nhiều thế hệ trẻ tuổi đã nhớ câu này bỏi nó nói hộ họ rất nhiều. Thậm chí, nhiều người còn nghĩ đây là những câu ca dao chứ không phải là thơ Nguyễn Bính. họ thết lên tiếng nói từ đáy lòng mình. Đó là niềm vinh quang của thi sĩ Nguyễn Bính.

      Trong tình yêu, thông thường người chủ động là con trai, chàng trai trong bài thơ lại đóng vai trò thụ động ngồi chờ, lại còn trách móc:

Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?

     Tại sao chàng trai lại trách móc? Tình yêu phi lí nhà như thế đấy? Những lời trách móc tạo ra tình huống để giãi bày nỗi niềm, tâm trạng tương tư. Câu hỏi tu từ: cớ sao là lời trách móc nhẹ nhàng, dễ thương, là trách yêu, là độc thoại nội tâm vang lên vì thương nhớ. 

       Những câu thơ tiếp theo nói hộ lòng chàng trai “thôn Đoài”:

Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.

      Lối điệp ngữ “ngày qua ngày lại…” như các nốt luyến láy trong nhạc điệu dân ca, trong chèo tạo nên âm hưởng uyển chuyển của câu thơ, phô trạng thái “sầu đong càng lắc càng đầy” trong lòng người đang yêu. Cũng diễn tả sự vận động của thời gian tương tư mà dòng trên là nhạc, dòng dưới là màu: “Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”. Viết như vậy, cái sự tương tư ấy nó mới đậm, tương tư đến úa vàng cả lá xanh, hay phải chăng là vàng vọt cả tuổi xanh?

      Thế rồi, chàng trai lại tiếp tục kiếm cớ để mà “mát mẻ”, trách móc yêu thương với người yêu:

Bảo rằng cách trở đò giang,
Không sang là chẳng đường sang đã đành.
Nhưng đây cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy cho tình xa xôi…

       Không gian thực rất gần (cách nhau một đầu đình, chung một làng…) còn không gian tâm lí lại rất xa (tình xa xôi…). Đây là sự đối lập giữa cảnh và tình. Càng ở gần, thì chàng trai lại càng cảm thấy cô gái xa cách. Đã đành là cách sông, phải lụy đò, thì không sang là đã đành, là cũng đành lòng. Nhưng ở đây, thông Đoài và thôn Đông, chàng trai và cô gái cùng chung một làng và chỉ cách nhau một cái “đình” mà thôi, vậy mà tình lại quả thật rất xa xôi

       Có sự xa xôi đó là do chàng trai quá mong nhớ, quá yêu thương, do bị nỗi nhớ dày vò, tưởng mình bị hờ hững, “xa xôi”. Nói khác đi, hờn trách cũng là một cách bộc lộ tình yêu. Chắc hẳn là không chỉ có anh trai làng mới yêu phí lí như thế.

       Hết “mát mẻ”, anh trai quê lại kể lể não nề:

Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!

       Thời gian tương tư là thời gian đằng đẵng, vô tận: Tương tư thức mấy đêm rồi. Mấy đêm vốn không phải là nhiều như “nghìn đêm”, “ba thu” nhưng ở đây mang sắc thái như là vô hạn, triền miên. Ở đây, có sự đối lập giữa thời gian vật lí và thời gian tâm lí: Thời gian càng chậm, tâm trạng càng nặng nề, tâm trạng càng mòn mỏi nôn nóng, thời gian càng chậm chạp lê thê.

       Vậy, do đâu mà chàng trai lại có tâm trạng ảo nảo như vậy, phải chăng là do nỗi mong nhớ đang chiếm đầy cả tâm trí và niềm mong ước được gặp nhau quá đỗi lớn lao:

Bao giờ bến mới gặp đò?
Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?

      Ở đây tạ lại bắt gặp sự vận dụng sáng tạo nghệ thuật ca dao của thi sĩ hồn quê Nguyễn Bính. Trong ca dao, bến và hoa là những biểu tượng tĩnh, ám chỉ người con gái; đò và bướm là những biểu tượng động, ám chỉ người con trai. Nguyễn Bính đã khéo léo biểu đạt cảnh ngộ riêng của đôi trai gái dân quê. Mà sao lại “bao giờ bến mới gặp đò”? Chẳng bao giờ có chuyện đó. Thế là mong ước của chàng trai vô vọng rồi. Vậy nên cứ trách “cớ sao bên ấy chẳng sang bên này”,… Lại còn “hoa khuê các” làm sao gặp “bướm giang hồ”? Đúng là Nguyễn Bính đã thổi chút tình lãng mạn của thời đại vào tình hoa – bướm dân dã, giản dị làm cho cuộc tình trong mộng ấy vừa có gì duyên dáng lại vừa có nét hiện đại.

 

      Khổ cuối của bài thơ nói lên mong ước “đưa nàng về dinh” của chàng trai thôn Đoài:

Nhà em có một giàn giầu
Nhà anh có một hàng cau liên phòng
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

      Mạch vận động của bài thơ phát triển liên tục. Trình tự xuất hiện những cặp đôi từ xa đến gần, cuối cùng dừng lại ở cặp đôi trầu – cau. Đó chính là khao khát nhân duyên. Tình yêu gắn với hôn nhân là quan niệm về tình yêu trong thơ Nguyễn Bính, cũng rất gần với quan niệm truyền thống của dân gian:

Miếng trầu với lại quả cau

Làm sao cho đỏ với nhau thì làm

                         (Ca dao)

     Vậy nhưng, niềm khao khát vẫn mãi chỉ là khát khao mà thôi, vì “Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”. Có thể nói, tình yêu gắn bó với hôn nhân là một đặc điểm của quan niệm về tình yêu trong thơ Nguyễn Bính, một đặc trưng của “cái tôi” Nguyễn  Bính trong thơ mới lãng mạn của thi sĩ “Chân quê” này.

       Bài thơ Tương từ thể hiện vẻ đẹp của thơ lục bát Nguyễn Bính. Bằng tài năng nghệ thuật của mình, ông đã có vai trò đặc biệt trong việc lưu giữ những nét “hương đồng, gió nội” của thôn quê. Không có chất triết lí, suy tưởng nào trong bài thơ, Tương tư chỉ thể hiện nhẹ nhàng mà âm thầm một nỗi niềm trong tình yêu chân quê; thật thà mà say đắm; trong sáng mà thiết tha; khát khao cháy bỏng mà vẫn kín đáo, ý nhị. Bài thơ đã thể hiện những diễn biến có tính quy luật của tâm trạng tương tư. Bài thơ đã đi vào lòng người đọc biết bao thế hệ và trở nên rất đỗi quen thuộc đối với giới trẻ.

>> XEM THÊM: Phân Tích Bài Thơ Nhớ Đồng

>> XEM THÊM: Phân Tích Bài Thơ Từ Ấy

>> XEM THÊM: Phân Tích Bài Thơ Lai Tân

Spread the love
Loading...

Check Also

suy nghĩ về ý kiến thơ trước hết là cuộc đời sau đó mới là nghệ thuật

Suy nghĩ về ý kiến Thơ trước hết là cuộc đời sau đó mới là nghệ thuật | Văn mẫu

(Văn mẫu lớp 11) – Em hãy nêu suy nghĩ về ý kiến của nhà thơ, …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

vụng trộm