Home / VĂN MẪU THCS / Văn mẫu lớp 9 / Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Đồng Chí Lớp 9 Của Chính Hữu | Văn Mẫu

Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Đồng Chí Lớp 9 Của Chính Hữu | Văn Mẫu

(Văn mẫu lớp 9) – Em hãy phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu  (Bài làm của học sinh Nguyễn Hải Nam)

Đề bài: Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Đồng Chí Lớp 9 Của Chính Hữu

BÀI LÀM

    Được sáng tác vào những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, bài thơ Đồng chí “ngay từ khi mới xuất hiện đã được xem như một hiện tượng” của thơ kháng chiến, thơ bộ đội”. Nó mở ra một khuynh hướng mới khi viết về người lính cụ Hồ, cảm hứng thơ về chân thực của đời sống kháng chiến, khai thác vẻ đẹp và chất thơ trong cái bình dị, đời thường. Khác với nhiều bài thơ lúc đó khi viết về người lính thường thiên về cái phi thường, thể hiện cảm hứng lãng mạn anh hùng.

 
    Cái bình dị của cuộc sống được Chính Hữu nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong bài thơ. Mở đầu là hình ảnh quê hương, nơi mà những người lính sinh ra và gắn bó. Nơi giờ đây chỉ còn là hoài niệm khi các anh đã đi ra chiến trường chiến đấu vì tổ quốc:
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
 
    Quê hương trong mỗi người luôn thiêng liêng cao cả. Nếu như trong thơ Tế Hanh, quê hương là một làng chài ven biển nơi có núi Ấn, sông Trà nổi tiếng. Thì quê hương của các chiến sĩ bộ đội trong Đồng chí là những vùng quê nghèo “nước mặn đồng chua”. Đó là những miền quê cuộc sống quanh năm gắn với ruộng đồng, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Đó còn là những mảnh đất nghèo “đất cày lên sỏi đá”. Hai câu thơ đầu ngắn gọn, nhưng giới thiệu được một cách đầy đủ về quê hương của các anh bộ đội. Giọng văn thể hiện niềm tự hào của các chiến sĩ về miền quê nghèo đó.
Em hãy phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu
Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Đồng Chí Lớp 9 Của Chính Hữu | Văn Mẫu
Như vậy, “anh” và “tôi” là những người đến từ những miền quê khác nhau nhưng đều nghèo như nhau. Điều này thể hiện được sự cảm thông của các chiến sĩ dành cho nhau khi họ cùng xuất phát điểm từ những nơi nghèo khó. Hai người đã từng là “người xa lạ” với nhau, “chẳng hẹn quen nhau” mà giờ đây đã trở thành tri kỉ:
Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau.
 
    Tác giả  không sử dụng từ “hai” mà lại nói: đôi”. Thông thường từ “đôi” thường gắn với những danh từ như “đũa”, “chim”. Đã là “đôi” tức là bao giờ cũng phải gắn bó chặt chẽ với nhau, keo sơn, thắm thiết Chính Hữu dùng từ này để khẳng định tình thân giữa hai người, đồng thời làm lời thơ thêm giản dị gần với đời thường. Tuy nhiên đời thường nhưng không phải tầm thường, thô thiển bới tác giả khéo léo chọn đưa ngôn ngữ cuộc sống thành ngôn ngữ văn chương.

    Năm câu thơ tiếp theo nói lên một quá trình thương mến: từ “đôi người xa lạ” rồi “thành đôi tri kỉ”, về sau kết thành “đồng chí”. Câu thơ biến hóa, 7,8 từ rồi rút lại, nén xuống 2 từ, cảm xúc vần thơ như dồn tụ lại, nén chặt lại. Những ngày đầu đứng dưới lá quân kì: “Anh với tôi đôi người xa lạ – Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”. Đôi bạn gắn bó với nhau bằng bao kỉ niệm đẹp:

“Súng bên súng, đầu sát bên đầu,

Loading...

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.

Đồng chí!”

    “Súng bên súng” là cách nói hàm súc, hình tượng: cùng chung lí tưởng chiến đấu; “anh với tôi” cùng ra trận đánh giặc để bảo vệ đất nước quê hương, vì độc lập, tự do và sự sống còn của dân tộc. “Đầu sát bên đầu” là hình ảnh diễn tả ý hợp tâm đầu của đôi bạn tâm giao. Câu thơ “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ” là câu thơ hay và cảm động, đầy ắp kỉ niệm một thời gian khổ. Chia ngọt sẻ bùi mới “thành đôi tri kỉ”. “Đôi tri kỉ” là đôi bạn rất thân, biết bạn như biết mình. Bạn chiến đấu thành tri kỉ, về sau trở thành đồng chí! Câu thơ 7, 8 từ đột ngột rút ngắn lại hai từ “đồng chí” diễn tả niềm tự hào xúc động ngân nga mãi trong lòng. Xúc động khi nghĩ về một tình bạn đẹp. Tự hào về mối tình đồng chí cao cả thiêng liêng, cùng chung lí tưởng chiến đấu của những người binh nhì vốn là những trai cày giàu lòng yêu nước ra trận đánh giặc. Các từ ngữ được sử dụng làm vị ngữ trong vần thơ: bên, sát, chung, thành – đã thể hiện sự gắn bó thiết tha của tình tri kỉ, tình đồng chí. Cái tấm chăn mỏng mà ấm áp tình tri kỉ, tình đồng chí ấy mãi mãi là kỉ niệm đẹp của người lính, không bao giờ có thể quên:

“Ôi núi thẳm rừng sâu

Trung đội cũ về đâu

Biết chăng chiều mưa mau

Nơi đây chăn giá ngắt

Nhớ cái rét ban đầu

Thấm mối tình Việt Bắc…”

                                          (Chiều mưa đường số 5– Thâm Tâm)

    Ba câu thơ tiếp theo nói lên hai người đồng chí cùng chung một nỗi nhớ: nhớ ruộng nương, nhớ bạn thân cày, nhớ gian nhà, nhớ giếng nước, gốc đa. Hình ảnh nào cũng thắm thiết một tình quê vơi đầy:

“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày,

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay,

Giếng nước, gốc đa nhớ người ra lính”.

    Giếng nước, gốc đa là những hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam. Ai đi xa quê mà không nhớ về quê hương của mình, đặc biệt là nhớ đến những biểu tượng gần gũi và thiêng liêng nhất của quê hương. Những người lính ra trận họ cũng thế. Hàng đêm, họ cùng chung một nỗi nhớ khắc khoải về quê nhà. Nỗi nhớ đấy, thể hiện tình yêu quê hương, đất nước sâu sắc của người lính cụ Hồ.

    Nhớ quê, yêu quê là thế, nhưng khi tổ quốc cần, các anh sẵn sàng từ bỏ những gì thân thuộc nhất để ra đi làm nhiệm vụ: ruộng nương gửi bạn thân cày, để mặc căn nhà trống trải đang cần người sửa mái “mặc kệ” vốn chỉ thái dộ thờ ơ vô tâm của con người, nhưng trong lời thơ của Chính Hữu lại thể hiện được sự quyết tâm của người lính khi ra đi. Các anh ra đi để lại tình yêu quê hương trrong tim mình, để nâng lên thành tình yêu Tổ quốc. Đó cũng là sự quyết tâm chung của cả dân tộc, của cả thời đại. Tuy quyết tâm ra đi nhưng trong sâu thẳm tâm hồn các anh, hình ảnh quê hương vẫn in đậm, vẫn hằn lên nỗi nhớ thân thương: “giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”. Hình ảnh hoán dụ cũng với nghệ thuật nhân hóa, Chính Hữu đã tạo ra nỗi nhớ hai chiều: quê hương – nơi có cha mẹ, dân làng luôn nhớ và đợi chờ các anh, các anh – những người lính luôn hướng về quê hương với bao tình cảm sâu nặng. Có lẽ chính nỗi nhớ ấy đã tiếp thêm cho các anh sức mạnh để các anh chiến đấu dành lại độc lập cho dân tộc.

    Không chỉ cùng chung một nỗi nhớ, một mục đích chiến đấu, người lính cụ Hồ còn chung nhau đói, rét, hoạn nạn của cuộc sống nơi chiến trường:

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Rét run người vầng trán ướt mồ hôi
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”

    Khổ thơ trên đã khắc họa được một cách cụ thể và sinh động sự khó khăn, vất vả mà người lính gặp phải trên con đường chiến đấu vì tổ quốc. Chữ “biết” trong đoạn thơ này nghĩa là nếm trải, cùng chung chịu gian nan thử thách. Các chữ: “anh với tôi”, “áo anh… quần tôi” xuất hiện trong đoạn thơ như một sự kết dính, gắn bó keo sơn tình đồng chí thắm thiết cao đẹp. Câu thơ 4 tiếng cấu trúc tương phản: “Miệng cười buốt giá” thể hiện sâu sắc tinh thần lạc quan của hai chiến sĩ, hai đồng chí. Đoạn thơ được viết dưới hình thức liệt kê, cảm xúc từ dồn nén bỗng trào lên: “Thường nhau tay nắm lấy bàn tay”. Tình thương đồng đội được biểu hiện bằng cử chỉ thân thiết, yêu thương: “tay nắm lấy bàn tay”. Anh nắm lấy tay tôi, tôi nắm lẩy bàn tay anh, để động viên nhau, truyền cho nhau tình thường và sức mạnh, để vượt qua mọi thử thách, “đi tới và làm nên thắng trận”.
    Trong thiếu thốn, các anh đã cùng chia sẻ ốm đau bệnh tật cùng nhau, cùng vào sinh – ra tử với nhau. Đặc biệt, các anh cùng chiến đấu anh dũng bên nhau, mặc kệ ngày đêm, gian nan, thử thách:
“Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.”
    Thật là bức tranh đơn sơ, thi vị về người lính trong một đêm chờ giặc tới giữa nơi rừng hoang sương muối. Những người lính kề vai, sát cánh cùng hứơng mũi súng vào kẻ thù . Trong cái vắng lặng bát ngát của rừng khuya, trăng bất ngờ xuất hiện chơi vơi lơ lửng nơi đầu súng. Những ngừơi lính nông dân giờ đây hiện ra với một tư thế khác hẳn, như những người nghệ sĩ đầy chất thơ, bình dị nhưng vẫn đẹp lạ lùng.
Đêm nay cũng như bao đêm khác, các anh phục kích chờ giặc, chuẩn bị cho trận đánh giành thắng lợi cuối cùng trong chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947, một đêm đã đi vào lịch sử khiến người lính không thể nào quên. Các anh phục kích chủ động chờ giặc trong hoàn cảnh đầy khắc nghiệt: “rừng hoang sương muối”. Câu thơ gợi từ hiện thực: đêm về khuya, người lính đứng gác trong tư thế chủ động, súng chĩa lên trời, trăng lên cao, ánh trăng trên đầu súng khiến các anh tưởng như trăng đang treo trên đầu súng của mình. Súng là biểu tương của cuộc chiến đấu đầy gián khổ, hi sinh mà người lính đang trải qua, trăng là biểu tượng của cuộc sống hòa bình trong tương lai mà người lính đang hướng tới. Súng là biểu tượng của người chiến sĩ, trăng là biểu tượng của thi sĩ. Súng – trăng là gần và xa, thực tại và mơ mộng, chất chiến đấu và chất trữ tình, chất chiến sĩ và chất thi sĩ, hiện thực và lãng mạn cũng tồn tại, bổ sung tô điểm cho vẻ đẹp cuộc đời người chiến sĩ. Ánh trăng dường như đang ngập tràn khắp núi rừng chiến khu, trên bầu trời và chiếu cả trong làn sương huyền ảo. Tâm hồn các anh, những người chiến sĩ cũng như ánh trăng ấy nồng hậu, lấp lánh ánh sáng lạc quan, luôn hướng về một ngày mai tươi sáng.
Bài thơ được đặt tên là Đồng chí đó cũng là cấu tứ xuyên suốt bài thơ. Tình cảm của các anh bộ đội cụ Hồ hiện lên qua bài thơ thật đẹp, thật đáng tự hào biết bao. Chính Hữu đã đưa vào kho tàng văn học Việt Nam một bức tượng đài về người lính kì vừa gần gũi, vừa kì vĩ.
>>>>XEM THÊM
Spread the love
Loading...

Check Also

nghị luận về lòng tự trọng

Suy nghĩ về lòng tự trọng | Làm văn mẫu

(Văn mẫu lớp 9) – Suy nghĩ về lòng tự trọng (Bài làm của học …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *