Home / VĂN MẪU THCS / Văn mẫu lớp 9 / Phân tích bài thơ đồng chí của chính hữu để chứng tỏ bài thơ đã diễn tả sâu sắc tình đồng chí cao quý của các anh bộ đội thời kì kháng chiến chống pháp

Phân tích bài thơ đồng chí của chính hữu để chứng tỏ bài thơ đã diễn tả sâu sắc tình đồng chí cao quý của các anh bộ đội thời kì kháng chiến chống pháp

    (Văn mẫu lớp 9) –Em hãy phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu để chứng tỏ bài thơ đã diễn tả sâu sắc tình đồng chí cao quý của các anh bộ đội thời kì kháng chiến chống Pháp. (Bài làm của học sinh Hữu Lập)

Đề bài: Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu để chứng tỏ bài thơ đã diễn tả sâu sắc tình đồng chí cao quý của các anh bộ đội thời kì kháng chiến chống Pháp

BÀI LÀM:

     Được sáng tác vào những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, bài thơ Đồng chí ngay từ khi ra đời đã được xem như một "hiện tượng" của thơ ca kháng chiến, thơ bộ đội. Nó mở ra một khuynh hướng mới khi viết về người lính Cụ Hồ, cảm hứng thơ hướng về chất thực của đời sống kháng chiến, khai thác vẻ đẹp và chất thơ trong cái bình dị, đời thường. Khác với nhiều bài thơ lúc đó khi viết về người lính thường thiên về cái phi thường, thể hiện cảm hứng lãng mạn anh hùng. 

      Bài thơ được Chính Hữu sáng tác đầu năm 1948. Bài thơ là một bản tình ca về tình đồng chí, đồng đội gắn bó thắm thiết của những người nông dân mặc áo lính trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Mặc dù ở trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn, nhưng tình cảm đó vẫn ánh lên thật đẹp đẽ.

Loading...

       Nguồn gốc cao quý, cơ sở hình thành tình đồng chí là xuất thân nghèo khổ của các anh bộ đội Cụ Hồ:

Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau.
      Nhà thơ Chính Hữu đã khắc họa những hình ảnh rất cụ thể mà có ý nghĩa khái quát về hoàn cảnh xuất thân của  người lính. Họ mặc dù không cung quê, xuất thân từ những phương trời khác nhau, là "những người xa lạ", nhưng tất cả họ có điểm chung đó là ra đi từ những miền quê nghèo, vất vả, lam lũ. Đều là những người  nông dân chân lấm tay bùn, quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Chính sự tương đồng về hoàn cảnh ấy đã tạo cơ sở ban đầu cho tình đồng chí. Dù sao, khi con người cùng cảnh ngộ, họ sẽ thấu hiểu, đồng cảm với nhau hơn; dễ dàng sẻ chia với nhau hơn !
Những người lính bộ đội Cụ Hồ không chỉ có chung nhau hoàn cảnh xuất thân, họ còn là người có chung chí hướng:

"Súng bên súng, đầu sát bên đầu,

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.

Đồng chí!"

      Những câu thơ giản dị nhưng cho người đọc thấy được cuộc kháng chiến chung đã làm cho người lính từ riêng chuyển thành chung tất cả. Hai dòng thơ chỉ có một chữ chungđêm rét chung chăn, nhưng cái chung đã bao trùm lên tất cả. Súng bên súng là chung chiến đấu; đầu sát bên đầu là chung rất nhiều; không chỉ là gần nhau về không gian mà còn cùng chung ý nghĩ, lí tưởng. Những cái chung ấy biến người xa lạ thành tri kỉ, khiến cho tình đồng đội, đồng chí thêm mặn nồng hơn.

     Và trong cuộc chiến đấu để bảo vệ tổ quốc, "anh" với "tôi" đều là những người rời xa quê hương để lên đường làm nhiệm vụ. Những mẹ già, những người thân, những gian nhà, những giếng nước,… tất cả những gì gần gũi, gắn bó với họ giờ đã là quá khứ. Họ bỏ lại tất cả để làm nhiệm vụ vì tổ quốc. Mục đích sống, lí tưởng sống coi cái chung, coi nhiệm vụ của Tổ quốc giao phó được đặt lên trên những lợi ích cá nhân. Họ giống nhau từ hoàn cảnh, chí hướng, lí tưởng,.. vì vậy, đã giúp họ gắn kết với nhau một cách keo sơn, dường như không có khoảng cách.

     Sự gắn kết bền chặt đó, được nhà thơ thể hiện đặc sắc trong những câu thơ viết về hiện thực cuộc kháng chiến của người lính:

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Rét run người vầng trán ướt mồ hôi
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”

     Để thuận tiện cho kháng chiến, người lính thường vào rừng sâu để phục kích, để tác chiến. Và chúng ta biết, rừng thiêng nước độc vì vậy, con người thường rất hay bệnh tật. Hơn nữa, vì cái đói, cái rét lúc nào cũng hoành hành, thế nên người lính càng dễ ngục ngã hơn trước các căn bệnh quái ác. Mà điển hình, có thể nói là không một ai đi vào chốn rừng núi hiểm trở thoát khỏi, đó là bệnh sốt rét. Từng cơn "ớn lạnh", rồi "toát mồ hôi" đó là triệu chứng của căn bệnh sốt rét. Chính Hữu bằng hai câu thơ ngắn đã diễn tả được một cách chân thực căn bệnh này. 

     Người lính không chỉ bị bệnh tật, mà họ còn không có cái ăn, cái mặc. Trong những ngày đông giá rét của cảnh rừng Việt Bắc, người lính đầu trần, chân đất, quần áo chì chịt mảnh vá. Có thể nói, hoàn cảnh kháng chiến của người lính trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vô cùng khó khăn, gian khổ. Thiếu ăn, thiếu mặc, sốt rét, bệnh tật,… không gì là người lính không phải trải qua. Thế nhưng, trong cái hoàn cảnh khổ cực ấy, họ càng thương nhau hơn, càng yêu quý nhau hơn, tình đồng đội vì thế mà gắn bó keo sơn hơn. Câu thơ "Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” đã diễn tả được điều đó. Người lính, "anh", "tôi" thương nhau vì đều phải chung cảnh ngộ như nhau, và hành động tay nắm tay như một sự sẻ chia, như muốn truyền cho nhau hơi ấm của tình đồng chí. Có thể nói, nếu không có những tình cảm thiêng liêng đó, người lính chắc gì đã vượt qua được cái khó khăn của hiện thực chiến tranh khốc liệt ấy. 

     Tình đồng chí đã trở thành chỗ dựa về mặt tinh thần cho người lính:

“Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.”

     Hình ảnh đầu súng trăng treo kết thúc bài thơ chính là biểu tượng của tình đồng chí. Cảnh chờ giặc trong đêm đông rét buốt nơi "rừng hoang sương muối" đã làm cho người lính càng kề vai sát cánh nhau hơn, càng gần gũi nhau hơn.  Cuối đoạn mà cũng là cuối bài cảm xúc lại được kết tinh trong câu thơ rất đẹp : Đầu súng trăng treo. Câu thơ như bức tượng đài người lính, hình ảnh đẹp nhất, cao quý nhất của tình đồng chí, cách biểu hiện thật độc đáo, vừa lãng mạn vừa hiện thực, vừa là tinh thần chiến sĩ vừa là tâm hồn thi sĩ.

     Tóm lại, đề tài về người lính của Chính Hữu được biểu hiện một cách cảm động, sâu lắng nhờ sự khai thác chất thơ từ những cái bình dị của đời thường. Đây là một sự cách tân so với thơ thời đó viết về người lính. Viết về bộ đội mà không tiếng súng nhưng tình cảm của người lính, sự hi sinh của người lính vẫn cao cả, hào hùng.

Spread the love
Loading...

Check Also

nghị luận về lòng tự trọng

Suy nghĩ về lòng tự trọng | Làm văn mẫu

(Văn mẫu lớp 9) – Suy nghĩ về lòng tự trọng (Bài làm của học …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *