Home / VĂN MẪU THCS / Văn mẫu lớp 7 / Phân Tích Bài Sự Giàu Đẹp Của Tiếng Việt | Văn Mẫu Lớp 7

Phân Tích Bài Sự Giàu Đẹp Của Tiếng Việt | Văn Mẫu Lớp 7

(Văn mẫu lớp 7) – Em hãy phân tích đoạn trích Sự giàu đẹp của tiếng Việt của Đặng Thai Mai (Bài làm của học sinh Hà Giang)

Đề bàiPhân tích bài Sự giàu đẹp của tiếng Việt của Đặng Thai Mai

BÀI LÀM

     Trải qua bao thăng trầm của đất nước người Việt Nam ta giờ đây đã có thể tự hào về tiếng nói và chữ viết của mình. Tiếng Việt ta giàu đẹp như thế nào là vấn đề đã được không ít các nhà nghiên cứu quan tâm. Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng có bài viết Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, nhà phê bình Đặng Thai Mai có Tiếng Việt, một biểu hiện hùng hồn của sức sống dân tộc và không thể không kể đến Sự giàu đẹp của Tiếng Việt được trích trong sách giáo khoa ngữ văn 7.

     Đoạn trích Sự giàu đẹp của Tiếng Việt chỉ tập trung nói về đặc tính đẹp và hay của tiếng Việt. Vì chỉ là một đoạn trích nên văn bản không bao gồm đầy đủ các phần thường có trong một bài văn nghị luận, cụ thể là không có phần kết bài hoàn chỉnh. Tuy nhiên văn bản vẫn rất chặt chẽ trong lập luận và có bố cục rõ ràng, hợp lí (có câu tổng kết ý gần như là kết bài lâm thời). Trình tự lập luận cụ thể của bài được sắp đặt như sau: đoạn mở đầu nêu lên luận điểm bao trùm, tiếp đó giải thích ngắn gọn vấn đề nêu ra. Phần chính của bài là tập trung chứng minh đặc điểm của tiếng Việt là hay và đẹp trên các phương diện chính như ngữ âm, từ vựng, cú pháp.

Phân Tích Bài Sự Giàu Đẹp Của Tiếng Việt

Loading...

     Trong câu mở đầu, tác giả khẳng định giá trị to lớn và địa vị quan trọng của tiếng Việt: "Người Việt Nam ngày nay có lí do đầy đủ và vững chắc để tự hào với tiếng nói của mình. Và để tin tưởng hơn nữa vào tương lai của nó". Nói người Việt Nam ngày nay có lí do đầy đủ và vững chắc để tự hào và tin tưởng vào tương lai của tiếng Việt, hai câu này mang tính chất gợi dẫn vào vấn đề. Người đọc khi đọc đến đây, tất nhiên phải nảy ra trong trí những câu hỏi tức thời và tự nhiên, chẳng hạn: Những lí do đầy đủ và vững chắc ấy là gì? Vì sao chúng ta lại có thể tự hào và tin tưởng vào tương lai của tiếng Việt?

    Từ đó, ông đưa ra luận điểm bao trùm: Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay. Câu thứ 3 này giới thiệu trực tiếp vấn đề của bài: Đặc sắc của tiếng Việt là hay và đẹp. Nhưng tác giả không viết gọn như vậy mà cố ý tách ra, lặp ngữ để thêm phần trang trọng (một thứ tiếng). Vì vậy, luận điểm trên tự nó đã hàm chứa 2 luận điểm phụ cần phải làm rõ, đó là: Tiếng Việt rất đẹp; Tiếng Việt rất hay. Và những câu tiếp theo cũng nằm trong phần đặt vấn đề và mang tính chất giải thích cụ thể hơn, rõ hơn một cách khái quát 2 đặc điểm hay và đẹp đó. 

    Để giải thích cho nhận định trên, tác giả viết:

    Nói thế có nghĩa là nói rằng: tiếng Việt là một thứ tiếng hài hòa về mặt âm hưởng, thanh điệu mà cũng rất tế nhị, uyển chuyển trong cách đặt câu. Nói thế cũng có nghĩa là nói rằng: tiếng Việt có đầy đủ khả năng để diễn đạt tình cảm; tư tưởng của người Việt Nam và để thỏa mãn cho yêu cầu của đời sống văn hóa nước nhà qua các thời kì lịch sử.

    Vẻ đẹp của tiếng Việt được thể hiện qua hai yếu tố: nhịp điệu (hài hòa về âm hưởng và thanh điệu) và cú pháp (tế nhị uyển chuyển trong cách đặt câu).

    Như vậy ta thấy cách giải thích đó rất rõ ràng khúc chiết: Hài hoà âm hưởng, thanh điệu là nói về mặt phát âm, ngữ âm; Tế nhị, uyển chuyển trong cách đặt câu là xuất phát trên bình diện cú pháp, ngữ pháp. Đó là xét từ nội bộ cấu trúc ngôn ngữ mà đánh giá giá trị của ngôn ngữ – một cách nhìn rất khoa học, rất cơ bản. Những giá trị cái hay, cái đẹp của một ngôn ngữ còn phải được biểu hiện ở khả năng diễn đạt tư tưởng tình cảm và thoả mãn yêu cầu của đời sống văn hoá dân tộc qua các thời kì lịch sử. Tiếng Việt cũng có đủ khả năng ấy. Đó là xét về mục đích và tính thực tiễn, văn hoá và lịch sử của tiếng nói. Cách giải thích, đánh giá như vậy quả thật không chỉ sâu sắc mà còn mang tầm khái quát rất cao, thể hiện một cách nhìn và tầm văn hoá uyên bác của người viết. Tóm lại, đặc sắc của đoạn văn nêu vấn đề là ở chỗ: nó rất mạch lạc, mẫu mực từ bố cục nhỏ đến từng câu văn, từng hình ảnh: Dẫn vào đề: 2 câu; Nêu luận đề, luận điểm: 1 câu; Mở rộng, giải thích tổng quát luận đề: 2 câu.

     Phần tiếp theo Đặng Thai Mai chứng minh biểu hiện giàu đẹp của Tiếng Việt.

    Vậy Tiếng Việt đẹp như thế nào? Tác giả lập luận theo lối tăng tiến: từ những người ít hiểu biết đến những người thành thạo về ngôn ngữ tiếng Việt. Tác giả đưa ra 2 dẫn chứng khách quan và tiêu biểu: Tiếng Việt là một thứ tiếng giàu chất nhạc và cấu tạo đặc biệt của Tiếng Việt: hệ thống nguyên âm, phụ âm khá phong phú … giàu thanh điệu… giàu hình tượng ngữ âm.

     Ta thử đọc câu ca dao:

Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát,
Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng, cũng bát ngát mênh mông.
Thân em như chẽn lúa đòng đòng,
Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai.

    Bài ca dao đã thể hiện được chất nhạc du dương cùng sự uyển chuyển trong câu tiếng Việt. Dẫn chứng này làm cho lập luận của tác giả về vẻ đẹp của tiếng Việt càng thêm chặt chẽ.

 

    Thứ hai, Tiếng Việt hay như thế nào?  Tiếng Việt thoả mãn nhu cầu trao đổi tình cảm, ý nghĩ giữa người với người; thoả mãn yêu cầu của đời sống văn hoá ngày một phức tạp. Có thể khẳng định Tiếng Việt của chúng ta dồi dào về cấu tạo từ ngữ, về hình thức diễn đạt; Từ vựng tăng lên mỗi ngày một nhiều; Ngữ pháp uyển chuyển, chính xác hơn; Không ngừng đặt ra những từ mới, cách nói mới hoặc Việt hoá những từ và những cách nói của các dân tộc anh em. Ví dụ như các sắc thái xanh khác nhau trong câu thơ “Chinh phụ ngâm” (Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu. Ngàn dâu xanh ngắt một màu). 

    Tiếng Việt vừa giàu, vừa đẹp. Vậy, quan hệ đẹp và hay trong Tiếng Việt diễn ra như thế nào? Đó là quan hệ gắn bó: cái đẹp đi liền cái hay, ngược lại cái hay cũng tạo ra vẻ đẹp của Tiếng Việt. Chẳng hạn: trong Tiếng Việt sự tinh tế, uyển chuyển trong cách đặt câu, dùng từ không chỉ là cái hay mà còn tạo ra vẻ đẹp trong hình thức diễn đạt hài hoà, linh hoạt, uyển chuyển.

    Tóm lại, Tiếng Việt đang đứng trước yêu cầu phát triển mạnh mẽ để phù hợp với sự phát triển của đời sống xã hội dân tộc và quốc tế nhưng cũng cần phải giữ được bản sắc và sự trong sáng vốn có của mình. Chính vì vậy, Bác Hồ đã từng phê phán sự lạm dụng từ Hán – Việt, nói tắt, nói chen từ nước ngoài, cần chống khuynh hướng sính ngoại, sùng ngoại đó. Bản thân là một học sinh, chúng ta cần giữ gìn và phát huy sự trong sáng của Tiếng Việt. Biết trân trọng, yêu quý tiếng nói giàu đẹp của dân tộc. Phát âm chính xác. Khắc phục nói ngọng, nói nhanh, nói lắp. Nghĩ kĩ rồi mới nói, không học theo, không nói tục.

>>>XEM THÊM 

Spread the love
Loading...

Check Also

Hãy tưởng tượng có một  cuộc tranh cãi giữa các phương tiện trong gia đình

Em Hãy Tưởng Tượng Có Một Cuộc Tranh Cãi Giữa Các Phương Tiện Trong Gia Đình Hãy Kể Lại Cuộc Tranh Cãi Ây

(Văn mẫu lớp 7) – Em hãy tưởng tượng có một  cuộc tranh cãi giữa …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *