Home / VĂN MẪU THCS / Văn mẫu lớp 8 / Phân Tích Bài Chiếu Dời Đô Lớp 8 Của Lý Công Uẩn / Văn Mẫu

Phân Tích Bài Chiếu Dời Đô Lớp 8 Của Lý Công Uẩn / Văn Mẫu

(Văn mẫu lớp 8) – Em hãy phân tích bài thơ Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn (Bài làm của học sinh)

Đề bài: Phân Tích Bài thơ Chiếu Dời Đô Lớp 8 Của Lý Công Uẩn / Văn Mẫu

BÀI LÀM

     Lý Thái Tổ (1010 – 1028) Lý Công Uẩn người làng Cổ Pháp (Từ Sơn, Bắc Ninh), mẹ họ Phạm, sinh ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất (974), mẹ chết khi mới sinh, thiền sư Lý Khánh Văn nhận làm con nuôi, Lý Công Uẩn thông minh và có chí khí khác người ngay từ nhỏ. Nhờ sự nuôi dạy của nhà sư Lý Khánh Văn và Lý Vạn Hạnh, Lý Công Uẩn trở thành người xuất chúng, văn võ kiêm toàn, làm đến chức Điện tiền chỉ huy sứ, khi Lê Ngọa Triều mất, triều thần tôn Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế, niên hiệu Thuận Thiên, vẫn lấy Quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô tại Hoa Lư. Tháng 7 năm 1010, vua Lý Thái Tổ có ý nguyện dời đô về thành Đại La, vì vậy, ông đã viết bài Chiếu dời đô để ban bố cho bá quan văn võ và thân dân được biết về ý nguyện ấy của mình.

    Chiếu còn gọi là chiếu thư, chiếu mệnh, chiếu chỉ, chiếu bản. Đó là văn bản do vua ban bố mệnh lệnh cho mọi người trong nước. Mỗi bài chiếu thể hiện một tư tưởng chính trị lớn lao có ảnh hưởng đến vận mệnh đất nước. Chiếu dời đô được Lí Công Uẩn viết vào năm 1010 bày tỏ ý định dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La (Hà Nội). Bài chiếu nói lên khát vọng của nhân dân ta về một đất nước độc lập, thống nhất và khí phách của dân tộc Đại Việt đang trên đà lớn mạnh.

    Bài chiếu được chia làm ba phần: Phần thứ nhất nêu tiền đề của việc dời dô, phần thứ hai chứng minh tiền đề bằng thực tiễn và phần cuối cùng khẳng định thành Đại La là nơi tốt nhất để làm kinh đô và bày tỏ ước nguyện dời đô của nhà vua.

Loading...

    Mở đầu bài văn, Lí Thái Tổ nói về việc dời đô của các vua nhà Thương, nhà Chu trong sử sách Trung Quốc: “Xưa nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần dời đô; nhà Chu đến vua Thành Vương cũng ba lần dời đô”. Tác giả đã suy luận: “ Phải đâu các vua thời Tam đại theo ý riêng mình mà tự tiện chuyển dời ?”. Sau đó nêu mục đích của việc dời đô, đó là “Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân nếu thấy thuận tiện thì thay đổi”. Và kết quả của việc dời đô của hai triều đại Thương và Chu là “vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh”. Việc viện dẫn sử sách Trung Quốc với những số liệu cụ thể và suy luận chặt chẽ đã tạo ra một tiền đề vững chắc cho việc dời đô của Lý Thái Tổ: Trong lịch sử đã có chuyện dời đô và nhiều cuộc dời đô đã đem lại kết quả tốt đẹp như vậy, việc Lý Thái Tổ dời đô là bình thường và hợp với quy luật.

    Vì nhà Thương, nhà Chu tiêu biểu cho những triều đại hưng thịnh của Trung Quốc được coi là mẫu mực đáng để ngợi ca mà quần thần ai cũng biết. Hơn nữa tâm lý người xưa thường noi gương tiền nhân. Cho nên Lý Công Uẩn lấy hai dẫn chứng trên là điều dễ hiểu.

     Tiếp theo tác giả phân tích nhưng thực tế cho thấy kinh đô cũ không còn thích hợp với sự mở mang của đất nước nữa cho nền cần thiết phải dời đô. Ông không ngần ngại phê phán những triều đại cũ “Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, muôn vật không được thích nghi. Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không dời đổi”. Tác giả nói rằng các triều đại nhà Đinh nhà Lê đã không nghe theo ý trời nên chỉ đóng đô ở nơi đây chính vì thế mà triều đại không được lâu dài. Không biết học những cái của thời xưa như nhà Thương, nhà Chu. Vậy nên trái với khách quan thì sẽ bị tiêu vong, không đi theo quy luật thì sẽ không có kết quả tốt. Tóm lại kinh đô Đại Việt không thể phát triển được trong một quốc gia chật hẹp như thế. Nhưng thực chất thì ở giai đoạn đó hai triều đại chưa đủ mạnh cả thế và lực để tiến hành việc rời đô vùng đồng bằng trống trải nên vẫn phải dựa vào địa thế hiểm trở của rừng núi để chống thù trong, giặc ngoài. Nhưng đến thời Lí, trên đà mở mang phát triển của đất nước thì việc đóng đô ở Hoa Lư không còn phù hợp nữa. Bên cạnh những dẫn chứng thuyết phục như thế tác giả còn thể hiện giãi bày tình cảm của mình. Điều đó đã làm tăng thêm sức thuyết phục cho bài văn. Cảm xúc ấy chính là cảm xúc mà tác giả muốn phát triển đất nước theo một hướng phát triển thịnh vượng hơn, lâu dài và bền vững hơn.

Phân Tích Bài thơ Chiếu Dời Đô Lớp 8 Của Lý Công Uẩn / Văn Mẫu
Phân Tích Bài Chiếu Dời Đô Lớp 8 Của Lý Công Uẩn / Văn Mẫu

    Đoạn cuối nhà văn khẳng định thành Đại La là nơi tốt nhất để chọn làm kinh đô. Sau khi khẳng định việc dời đô là không thể không làm, vấn đề còn lại là chọn đất định đô. Lý Thái Tổ tiếp tục khẳng định thành Đại La là thắng địa của đất Việt, là nơi tốt nhất để định đô, bằng cách chỉ ra một cách toàn diện những lợi thế của nó. Về vị thế địa lí, thành “ở vào trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng“. Về vị thế chính trị – kinh tế-  văn hóa, đây là “chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước“, là mảnh đất hưng thịnh “dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú, tốt tươi“. Những câu văn biền ngẫu ngắn gọn, súc tích, sóng đôi với nhau nhịp nhàng mà dõng dạc thể hiện khát vọng lớn lao của Lý Công Uẩn về một đất nước độc lập thống nhất, phồn thịnh, hùng cường và bền vững. Điều đáng trân trọng nhất là nhà vua luôn biết quan tâm đến dân.

    Trước đó, hai nhà Đinh, Lê vẫn cứ đóng đô ở Hoa Lư bởi vì thế và lực chưa đủ mạnh, vẫn còn phải dựa vào thế núi hiểm trở. Việc dời đô từ vùng núi Hoa Lư ra vùng đồng bằng đất rộng, xem Đại La là “nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời” chứng tỏ triều đình nhà Lý đủ sức chấm dứt nạn phong kiến cát cứ, thế lực của dân tộc Đại Việt đủ sức sánh ngang hàng Trung Hoa. Định đô ở Thăng Long là thực hiện nguyện vọng của nhân dân thu giang sơn về một mối của Lý Thái Tổ. Như vậy nguyện vọng của nhà vua thống nhất với nguyện vọng của nhân dân và phù hợp với yêu cầu của thời đại.

    Kết thúc bài chiếu, nhà vua không dùng giọng mệnh lệnh của bậc vua chúa mà dùng giọng đối thoại nhẹ nhàng như một lời tâm tình: “Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào?”. Giọng đối thoại ấy tạo nên sự đồng cảm giữa nhà vua với thần dân. Triều Lý hùng mạnh là vì có những vị vua minh quân thấu hiểu lòng dân đến thế.

    Chiếu dời đô thể hiện rõ hoài bão độc lập dân tộc và sự trưởng thành vượt bậc của ý chí quuốc gia. Bài chiếu là một văn kiện lịch sử quan trọng và cũng là một tác phẩm văn chính luận ngắn gọn, sâu sắc và xuất hiện vào loại sớm nhất Việt Nam.

>XEM THÊM:

  1. Phân tích chân dung tinh thần Hồ Chí Minh trong hai bài thơ Chiều tối và Lai Tân.

    2. Tình yêu nước qua Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn và Nước Đại Việt ta của Nguyễn Trãi

 

Spread the love
Loading...

Check Also

Cảm nhận của em về bài thơ khi con tu hú của tố hữu

Cảm nhận của em về bài thơ khi con tu hú của tố hữu | Làm văn mẫu

(Văn mẫu lớp 8) – Em hãy nêu cảm nhận về bài thơ Khi con tu hú …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *