Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 12 / Chất ca dao và sáng tạo trong Việt Bắc của Tố Hữu | Làm văn mẫu

Chất ca dao và sáng tạo trong Việt Bắc của Tố Hữu | Làm văn mẫu

(Văn mẫu lớp 12) – Chất ca dao và những sáng tạo trong Việt Bắc của Tố Hữu (Bài làm của học sinh Huỳnh Đông)

Đề bài: Chất ca dao và những sáng tạo trong Việt Bắc của Tố Hữu

 BÀI LÀM:

    Tố Hữu là một trong những nhà thơ hiện đại sử dụng nhuần nhuyễn và sáng tạo các bút pháp của ca dao trong sáng tác của mình. Thơ ông mang đậm phong vị của những bài ca dao dân ca trữ tình ngọt ngào. Đặc biệt, ông là một trong số ít các nhà thơ hiện đại có những đóng gớp lớn trong việc đổi mới nghệ thuật thơ lục bát – biến thể mang đậm nét văn hóa dân tộc, dễ làm nhưng không dễ đạt đến đỉnh cao.

Loading...

     Chất ca dao trước hết được thể hiện qua việc sử dụng thể thơ lục bát. Đọc ca dao, ta luôn bắt gặp những cảm xúc được thể hiện qua thể thơ này:

Hôm qua tát nước đầu đình,
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen.
Em được thì cho anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà?

     Ca dao giàu chất nhạc tính nên rất thuận lợi cho việc bày tỏ tâm tình, đặc biệt là những vấn đề tế nhị trong cuộc sống gia đình, tình cảm đôi lứa. Cuộc chia tay trong Việt Bắc thấm đẫm tình cảm của kẻ đi người ở. Do vậy, sử dụng thể thơ này là thế mạnh để Tố Hữu khắc họa bức chân dung tâm trạng keo sơn của tình quân dân:

 Mình về mình có nhớ ta?
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

     Là một bài thơ trữ tình cách mạng. Việt Bắc dạt dào cảm xúc cách mạng. Tác phẩm ngợi ca tình quân dân ca nước, ghi nhận  mối gắn bó hữu cơ giữa quần chúng và cách mạng và khẳng định tình cảm gắn bó chân thành của quân nhân kháng chiến và người dân địa phương là nền tảng quyết định cho mọi thành công. Mối tình giữa quê hương cách mạng Việt Bắc với người cán bộ cách mạng được Tố Hữu diễn tả như một mối tình riêng. Mối tình dó được đặc tả trong cặp đại từ quan hệ ta-mình, vốn là lối xưng hô quen thuộc của ca dao.

Chất ca dao và sáng tạo trong Việt Bắc của Tố Hữu

     "Đôi bạn tình" giữa chiến khu Việt Bắc với người chiến sĩ cách mạng đã chung sống với nhau mười lăm năm "thiết tha, mặn nồng", giờ đây họ chia tay nhau vì người cán bộ phải rời Việt Bắc để về xuôi trong niềm hân hoan chiến thắng tưng bừng của quân và dân ta.

     Buổi chia li đầy lưu luyến ấy phảng phất không khí buổi chia tay của những đôi bạn tình trong ca dao xưa. Mượn thể hát đối đáp dân tộc, đồng thời cũng mượn cả ngôn ngữ đậm đà màu sắc dân tộc để thể hiện những tình cảm mới, Tố Hữu đã tạo cho lời thơ sự đằm thắm, mặn mà thủy chung:

Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu…

      "Ta" với "Mình" tưởng như chỉ có thể có một đời sống cá nhân trong ca dao, bỗng lớn dậy, đổi khác, hồn nhiên đi thẳng vào đời sống chung của dân tộc, bao quát những tình cảm lớn của thời đại.

      Những câu hỏi dồn dập, nặng nghĩa tình, nặng suy nghĩ, bộc lộ yêu thương đồng thời cũng đòi hỏi được yêu thương liên tục được đặt ra, đầy day dứt:

Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?

      Toàn bộ bài thơ Việt Bắc được viết dưới hình thức đối đáp "ta" – "mình" của ca dao. Tuy nhiên việc sử dụng hai đại từ nhân xưng này trong bài thơ là rất linh hoạt, cho thấy nét tài hoa trong xử lí nghệ thuật của Tố Hữu. "Mình" là quê hương Việt Bắc. "Ta" là người chiến sĩ cách mạng. Nhưng "mình" có khi lại chỉ người cán bộ miền xuôi, "ta" chỉ người dân Việt Bắc.

     Trong câu thơ "Mình đi mình có nhớ mình" thì mình  là người cán bộ . Câu hỏi do chủ thể Việt Bắc đặt ra cho mình. Câu thơ này độc đáo ở chỗ có nhiều cách hiểu về đại từ mình. Có thể diễn giải như sau: anh đi anh nhớ tôi, tức là nhớ mảnh đất nơi anh từng sinh sống, hoặc anh đi anh có nhớ anh, tức là nhớ những kỉ niệm của chính mình.

     Có sự chuyển hóa rất độc đáo, hiện đại giữa ta với mìnhMình được dùng để chỉ bản thân – ngôi thứ nhất, nhưng còn được dùng để chỉ đối tượng gần gũi thân thiết – ngôi thứ hai. Trong khi đó, ta dùng để chỉ bản thân – ngôi thứ nhất số ít, nhưng còn dùng để chỉ hai, hay nhiều người – ngôi thứ nhất số nhiều.

     Như thế, ta và mình có sự chuyển hóa rất đa nghĩa: vừa là chủ thể, vừa là đối tượng, vứa phân đôi, vừa hòa nhập,… tất cả không nằm ngoài mục đích thể hiện sự gắn bó keo sơn.

     Có thể nói, việc thay đổi liên tục ý nghĩa biểu đạt của hai từ ta và mình là một sự sáng tạo táo bạo của bài thơ. Hai từ này có khi hình thành một cuộc đối đáp thực sự giữa người đi và kẻ ở, song có khi nó chỉ là sự phân thân, tự vấn của người đi để đáp lại tình sâu nặng của kẻ ở.

      Điều đó đã tạo nên sự hô ứng đồng vọng ngân vang. Qua lớp đối thoại bên ngoài là những lời độc thoại sâu sắc và tinh tế của tâm trạng:

 Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?

      Kết cấu đối thoại một mặt giúp nhà thơ bộc lộ tình cảm, tâm trạng, mặt khác nó tạo ra nhiều giọng điệu để khiến tác phẩm rất dài mà không gây nên sự nhàm chán.

      Màu sắc ca dao còn được thể hiện ở sự bày tỏ trực tiếp tình cảm, không hề cường điệu hoặc che dấu bớt. Tình cảm ở cung bậc nào thì được diễn tả ở cung bậc đó:

Tiếng ai tha thốt bên cồn

Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi

ca dao và sáng tạo trong Việt Bắc của Tố Hữu

      Tác giả còn vay mượn ngay chính hình ảnh và lối so sánh của ca dao để xây dựng hình tượng thơ của riêng mình:

Mình đi mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu

      Như thế, phảng pất trong Việt Bắc là hồn những bài ca dao ca ngợi vẻ đẹp  đất nước, rất nhiều địa danh được nhắc đến với bao nhiêu chiến công và kỉ niệm đẹp; những bài ca dao ca ngợi sức sống quật cường của dân tộc; nhưng trên hết là những khúc tâm tình dạt dào tình cảm luyến lưu khi từ biệt người thân, từ biệt mảnh đất gắn bó với nhiều kỉ niệm:

Ai về ai có nhớ không?
Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng
Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng
Nhớ từ Cao-Lạng nhớ sang Nhị Hà…

     Các địa danh này đều gắn với những chiến công lẫy lừng của quân dân cách mạng.

     Tình người trong Việt Bắc là tình cảm cụ thể, hướng đến những đối tượng bình thường, thân thuộc trong cuộc sống. Những đối tượng tuy nhỏ nhoi mà có phần lạ lẫm với người đọc nhưng lại có giá trị và gắn bó trực tiếp với chủ thể trữ tình. Bằng cách đưa những hình tượng ấy vào thơ, tác giả giới thiệu và khiến người đọc thêm yêu nhiều địa danh của Tổ quốc và nhắc nhở họ luôn có trách nhiệm với non sông, đất nước.

     Trên nền ngữ liệu ca dao cổ, Tố Hữu đã giải phóng hình tượng mang lại sức khái quát cao, thấm đẫm nghĩa tình. Chất ca dao được vận dụng sáng tạo đã mang lại chất men say ngọt ngào cho tác phẩm. Chất liệu ca dao chính là nền tảng quan trọng cho sự thành công của Việt Bắc.

>>> XEM THÊM : 

 

Spread the love
Loading...

Check Also

trình bày ý kiến về căn bênh lười biếng

Trình bày ý kiến về căn bênh lười biếng | Làm văn mẫu

(Văn mẫu lớp 12) – Trình bày ý kiến của anh (chị) về căn bênh …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *