Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 11 / Bàn luận về ý kiến của Chu Văn Sơn về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ: “Người si mê thấy đó chỉ là tỏ tình, người vội vàng bảo rằng tả cảnh, người hôn ngoan thì làm một gạch nối: tình yêu – tình quê”.

Bàn luận về ý kiến của Chu Văn Sơn về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ: “Người si mê thấy đó chỉ là tỏ tình, người vội vàng bảo rằng tả cảnh, người hôn ngoan thì làm một gạch nối: tình yêu – tình quê”.

(Văn mẫu lớp 11) – Em hãy nêu suy nghĩ về ý  kiến của Chu Văn Sơn khi bàn về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử: “Người si mê thấy đó chỉ là tỏ tình, người vội vàng bảo rằng tả cảnh, người hôn ngoan thì làm một gạch nối: tình yêu – tình quê” (Bài làm của học sinh Bùi Linh)

Đề bàiBàn về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, lâu nay đã có nhiều cách hiểu khác nhau: “Người si mê thấy đó chỉ là tỏ tình, người vội vàng bảo rằng tả cảnh, người hôn ngoan thì làm một gạch nối: tình yêu – tình quê”. (Chu Văn Sơn, Ba đỉnh cao Thơ mới). Qua cảm nhận về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, anh/chị hãy cho biết suy nghĩ riêng của mình về các kiến trên.

BÀI LÀM

       Thơ là tấm gương phản chiếu tâm hồn, là tiếng nói tình cảm của con người, là rung động của trái tim trước cuộc đời. Vì vậy mỗi bài thơ là những chiêm nghiệm, nghĩ suy khác nhau. Lâm Ngữ Đường đã từng nói: "Tuổi trẻ đọc sách như nhìn trăng qua kẽ lá, lớn tuổi đọc sách như ngắm trăng ngoài sân, tuổi già đọc sách như thưởng trăng trên đài.". Cùng là một bài thơ, mỗi người lại có những suy ngẫm, lí giải của riêng mình. Vì vậy thơ có tính đa nghĩa; Bàn về Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, tác phẩm đã đi theo năm tháng, lay động bao trái tim, lâu nay có nhiều cách hiểu: “Người si mê thấy đó chỉ là tỏ tình, người vội vàng bảo rằng tả cảnh, người khôn ngoan thì làm một gạch nối: tình yêu – tình quê”. (Chu Văn Sơn)

Loading...

        Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ trong sáng nhất của Hàn Mặc Tử – anh chàng bút mực. Nhắc đến ông là nhắc đến cuộc đời đau đớn về thể xác, cô đơn về tinh thần bởi căn bệnh phong quái ác. Bệnh tật tuy hành hạ trái tim thi nhân nhưng nó không thể chết được tinh thần của ông. Thế là bao đau thương chất chứa trong một hồn thơ kỳ lạ nhất phong trào Thơ mới. Thơ Hàn Mặc Tử mang diện mạo phức tạp và đầy bí ẩn bởi luôn đan xen những điều trái ngược; lúc thì những vần thơ thanh khiết, trong sáng; khi thì đau đớn, quằn quại rùng rợn, bí ẩn. Thơ Hàn Mặc Tử luôn chất chứa sự kì ảo giữa hai cõi mộng – thực. Hàn Mặc Tử là chủ xướng của trường thơ Loạn, với khuynh hướng thơ Điên. Ông từng nói: “Tôi không bao giờ làm thơ; khi tôi có thơ là tôi bị thơ làm”. Đây thôn Vĩ Dạ được sáng tác năm 1938, in trong tập Thơ Điên, sau đổi thành Đau thương. Ban đầu tác phẩm có tên Ở đây thôn Vĩ rồi đổi lại với tên bây giờ. Bài thơ được gợi cảm hứng từ bức bưu thiếp và Hoàng Thị Kim Cúc – người thiếu nữ Huế, đồng thời cũng là người tình trong mộng của nhà thơ gửi tặng lúc ông đang ở trại phong Quy Hòa. Bức bưu thiếp có vẽ hình xứ Huế mộng mơ, cảnh vật thôn Vĩ tươi đẹp đơn sơ mà ông bao ngày xa cách; ở đó có người con gái đơn phương thầm lặng. Giữa lúc bệnh tật ấy, có lẽ ông không còn cơ hội để trở về, để gặp gỡ bởi với ông ranh giới giữa sự sống và cái chết tưởng chừng như rất mong manh.

Bàn về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

       Đề tài xứ Huế mà Hàn Mặc Tử viết không phải là đề tài mới bởi xứ Huế mộng mơ với Sông Hương, núi Ngự, những cô gái Huế dịu dàng đã xúc động bao hồn  thơ. Thế nhưng Vĩ Dạ với Hàn Mặc Tử vẫn có nét đẹp rất  riêng, dấu ấn tuyệt phẩm ghi tên địa danh vào thi ca.

       Dưới ngòi bút tinh tế của Hàn Mặc Tử, Vĩ Dạ hiện lên mang những màu sắc vô cùng tươi đẹp; đó là bức tranh hài hòa cả tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước với tình yêu đôi lứa của trái tim đơn phương và cả tình đời tha thiết. Trước hết là cảnh tuyệt đẹp của Vĩ Dạ, bức tranh thiên nhiên xứ Huế:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

       Bức tranh thôn Vĩ được mở ra bởi khung cảnh nên thơ của một buổi sớm bình minh. Từ “nhìn” dường như là dưới tấm bưu thiếp ấy những hồi ức, hoài niệm về quá khứ bỗng nhiên ùa về, chiếm lấy tâm trí của một con người đang giữa chốn bệnh tật, đau thương. Điệp từ “nắng” cho ta cảm nhận một không gian ngập tràn sắc nắng. Trang thơ tưởng chừng u uất của đời người lại bỗng ngập tràn nắng tươi sáng; và đó còn là đặc trưng của miền Trung với nắng lắm mưa nhiều. Cụm từ “nắng hàng cau” vẽ lên những bước đi và sự vận đông của nắng. Cau là cây cao nhất trong  vườn nên sớm đón được những tia nắng mới lên trong trẻo, tinh khiết. Những tia nắng ấy chiếu vào thân cau thẳng tắp chia thành nhiều đốt như cây thước thiên nhiên đo mực nắng và những chuyển động nhẹ nhàng của thời gian

“Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

       “Ai” là đại từ phiếm chỉ gợi vẻ bang khuâng, những nét chung của xứ Huế mộng mơ, thanh bình và lãng mạn”. Tính từ “mướt” cực tả sức sống căng đầy, óng ả, non tơ, mỡ màng. Sức sống ấy đã vượt ngưỡng như một tiếng reo vui trầm trồ “quá”; nó lan tỏa vào lòng người đọc, mang tới cảm giác thoải mới, tươi mới đến lạ. Phép so sánh “xanh như ngọc” gợi lên một khu vườn được tắm đẫm sương đêm, rồi được đánh thức trong ánh hồng ban mai. Những giọt sương long lanh như viên ngọc trên lá. Thôn Vĩ vời vời sắc xanh, màu xanh thanh tân, lung linh, huyền ảo. Giữa bức tranh ấy, thấp thoáng ẩn hiện hình ảnh con người:

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

       Lá trúc vốn gợi lên sự mảnh mai, thanh tú như vẻ đẹp của những cô gái Huế làm ngây ngất lòng người. Theo quan niệm dân gian, khuôn mặt chữ Điền vốn là khuôn mặt vuông vắn, phúc hậu, hiền lành. Đây có thể là khuôn mặt người thôn Vĩ hoặc khuôn mặt người trở về được che ngang đầy duyên dáng, tình tứ, kín đáo. Bức tranh thôn Vĩ bỗng chốc có sự giao hòa tuyệt diệu giữa cảnh và người khiến cho thôn Vĩ đẹp đơn sơ mà vẫn lôi cuốn những hoài niệm thân thuộc:

Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay…
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?

        Không gian được mở rộng ra khung cảnh của mây trời, sông nước xứ Huế vừa thực và vừa ảo. Điệp từ “gió”, “mây” khiến cảnh như rời rac, gió chỉ đóng khung trong gió, mây chỉ cuộn tròn trong mây. Dòng sông ấy có phải là sông Hương đầy thơ mộng luôn chậm rãi, chảy trôi lững lờ như chính tâm trạng của con người. Thời gian có bước vận động từ ngày sang đêm; cảnh huyền ảo của thuyền, sông, trăng hiện lên giữa trang thơ đầy trong lành, thanh mát. Điệp từ “trăng” làm cho câu thơ tràn ngập ánh trăng; không gian lung linh dát đầy ánh trăng. Con sông bỗng chốc biến thành sông trăng chở bao tâm tưởng. Trăng từng là người bạn tri kỉ của Hàn Mặc Tử, đã có rất nhiều bài thơ của Hàn Mặc Tử viết về trăng:

Hôm nay còn một nửa trăng thôi
Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi!
Ta nhớ mình xa thương đứt ruột!
Gió làm nên tội buổi chia phôi!

(Một nửa trăng)

      Hay:

Có ai nuốt ảnh trăng vàng

Có ai nuốt cả bóng nàng Tiêng Nga

(Uống trăng)

       Nhìn bề ngoài, ta nghĩ đây là bài thơ về tình quê, nhưng ẩn chứa trong đó là bao tình cảm của tình yêu đôi lứa, yêu cuộc sống trần thế:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

       Câu hỏi tu từ gợi lên cho ta bao suy tưởng đầy thú vị. Người được hỏi ở đây cho ta liên tưởng đến nhà thơ Hàn Mặc Tử. Người hỏi ở đây có thể là cô gái Huế, hay đó chính là bà Hoàng Thị Kim Cúc -người con gái ông đơn phương bao lần nhớ thương. Cũng có thể là chính là nhà thơ tự phân thân, tự vấn, tự trách cứ chính mình sao chẳng thể về chơi thôn Vĩ. Khoảng cách về thôn Vĩ dường như đã quá xa, cuộc đời ngắn ngủi này, những giây phút đau đớn về thể xác lẫn tinh thần khiến ông không biết mình còn cơ hội trở lại đó nữa không. Câu thơ ẩn chứa bao khao khát được trở về với Vĩ Dạ. Nhưng rồi, thực tại đã chạm khắc nỗi đau trong lòng người:

Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.

       Với lối ngắt nhịp 4/3, hai vế câu thơ như bị tách biệt khiến gió mây chia lìa đôi ngả; nghịch lí ấy gợi lên mặc cảm trong lòng thi nhân. Chính vì căn bệnh phong quái ác mà ông bị cả xã hội xa lánh; phải sống tách biệt với cuộc sống ngoài kia. Dòng nước được nhân hóa như mang chính tâm trạng não nề của ngòi bút ấy. Chuyển động của cảnh vật bỗng lay lắt, thưa thớt và mỏi mệt đến rã rời. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình ấy như vẽ nên một bức tranh tâm cảnh đã nhuốm màu bức tranh ngoại cảnh khiến không gian ảm đạm, chia lìa. Phải chăng nó bắt nguồn từ chính bi kịch cuộc đời Hàn Mặc Tử. Vì bệnh tật, ông phải xa cách với cuộc đời ngoài kia, xa rời người mình yêu thương và chịu đựng những đau đớn, dằn vặt cả thể xác lẫn tâm hồn. “Bến sông trăng” là một hình ảnh độc đáo, sáng tạo mới mẻ, là dòng sông tâm tưởng. “Thuyền chở trăng” chính là con thuyền chở mộng, chở hy vọng, chở khát khao được gặp gỡ. Ông đã thấm thía sự chờ đợi, nỗi lo âu phấp phỏng. “Tối nay” là thời gian cụ thể, cần kíp cuối ngày, thời gian của những giới hạn mong  manh, ngắn ngủi. Câu thơ như lời khẩn cầu đầy khắc khoải niềm chờ đợi mỏi mòn của con người khao khát hạnh phúc, khao khát tình yêu với đời. Bệnh tật đã khiến ông mãi xa cách với cuộc đời, mãi mãi mất đi quyền được trở về:

Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?

Bàn về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

        Dường như đây là những hình ảnh ảo đầy thơ mộng và huyền bí đúng phong cách thơ ông. Mơ là động từ gợi về sự mơ hồ. Mong ước trở về Vĩ Dạ đã thấm vào giấc mơ. “Khách đường xa” có thể là con người nơi thôn Vĩ Dạ hay chính là cái tôi phân thân của tác giả. Có vẻ như thôn Vĩ Dạ ngày một xa cách, khuất nẻo; Liệu tác giả còn có thể trở về Vĩ Dạ, còn có thể gặp lại người con gái ấy nữa không? Hình ảnh “áo em” là áo của giai nhân, là vẻ đẹp của một thời trở về trong tâm tưởng của nhà thơ. Màu áo ấy “trắng quá” như màu áo của những tà áo dài con gái Huế trong hoài niệm xa vắng. Màu áo ấy đã khuất nẻo theo sương khói, không còn nhìn rõ nữa. Đây là một cách cực tả sắc trắng lạ lung; ca ngợi vẻ đẹp trinh bạch, thanh khiết của cõi trần gian tuyệt đẹp mà nhà thơ say mê đến lạ thường. Trước vẻ đẹp ấy, Hàn Mặc Tử choáng ngợp, rung động, đồng thời tiếc nuối, đau đớn vì cảnh quá hư ảo. Diện mạo cõi trần gian trong thơ thi sĩ họ Hàn tuyệt đẹp, thi nhân càng gắn bó tha thiết thì càng thấy nó xa vời. “Sương khói” ở đây là sương khói của xứ Huế mộng mơ, những cũng là màu của thời gian, kỉ niệm quá khứ đã bị phủ mờ, che lấp. Nơi ông đang sống ngăn cách hoàn toàn với Vĩ Dạ. Câu hỏi tu từ là bao sự mơ hồ, day dứt và cả những khao khát quặn lòng.

       Đây thôn Vĩ Dạ là một bài thơ có sự cộng hưởng cả tình yêu lẫn tình quê. Ba ý kiến trên không sai mà nó bổ sung cho nhau. Mỗi bài thơ ở mỗi góc độ khác nhau, mỗi người có cách cảm nhận khác nhau. Đây thôn Vĩ Dạ biểu lộ tâm trạng của Hàn Mặc Tử nhưng lại tạo được sự cộng hưởng rộng rãi và lâu bền trong tâm hồn các thế hệ bạn đọc. Hàn Mặc Tử đã truyền hết cảm xúc của mình vào mỗi câu thơ, với những chiêm nghiệm suy tư sâu sắc về cuộc đời như hà thơ Nga, Maiacốpxki từng viết:

Phải phí tốn nghìn cân quặng chữ
Mới thu về một chữ mà thôi
Những chữ ấy làm cho rung động
Triệu trái tim trong hàng triệu năm dài.

       Thời gian trôi đi tưởng chừng như nó đã phủ bụi lên tất cả tác phẩm. Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử  vẫn còn đó, vẫn ăn sâu vào tiềm thức người đọc. Bức tranh về thôn Vĩ tươi đẹp đã lạc vào thơ ca Việt Nam ngàn đời bởi ở bức tranh ấy luôn chứa đựng bao tình yêu. Đó là lòng yêu quê hương, yêu mảnh đất tươi đẹp đơn sơ mà thân thuộc, yêu người con gái xứ Huế, yêu cuộc đời thiết tha dù cho nghịch lý bệnh tật đau đớn. Qua đó cũng khẳng định tài năng của Hàn Mặc Tử. Ngòi bút của ông đã vượt lên bệnh tật đau đớn để sáng tác những thi phẩm song hành cùng thời gian, ghi tên vào chặng đường lịch sử văn học.

Spread the love
Loading...

Check Also

suy nghĩ về ý kiến thơ trước hết là cuộc đời sau đó mới là nghệ thuật

Suy nghĩ về ý kiến Thơ trước hết là cuộc đời sau đó mới là nghệ thuật | Văn mẫu

(Văn mẫu lớp 11) – Em hãy nêu suy nghĩ về ý kiến của nhà thơ, …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *